Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 122/2024/DS-ST

Ngày 05-9-2024

V/v tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tâm Nhân.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Thanh Liêm;

ông Trịnh Văn Bé.

- Thư ký phiên tòa: ông Quách Thuận An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Phước Lợi - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 239/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp “hụi” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 459/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Hồng D, sinh năm 1985; nơi cư trú: số C, tổ A, ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1973; nơi cư trú: tổ A, ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 30/5/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng D trình bày, bà D là chủ hụi, có mở 02 dây hụi tháng gồm: dây hụi 5.000.000 đồng khui hụi ngày 05/3/2022 âm lịch, có 26 phần hụi và dây hụi 3.000.000 đồng khui hụi ngày 10/4/2022 âm lịch, có 25 phần hụi. Trong các dây hụi vừa nêu, bà R đều có tham gia 01 phần hụi.

Về dây hụi 5.000.000 đồng, bà R hốt 01 phần hụi vào ngày 05/8/2022 âm lịch, đã nhận lãnh số tiền hụi 108.500.000 đồng có làm văn bản giao tiền. Bà R đã góp hụi “chết” được 10 kỳ, còn lại 10 kỳ chưa góp hụi “chết” nên bà D phải đứng ra tràn hụi “chết” cho bà R được 50.000.000 đồng.

Về dây hụi 3.000.000 đồng, bà R cũng hốt 01 phần hụi vào ngày 10/6/2022 âm lịch, đã nhận lãnh số tiền hụi 57.300.000 đồng có làm văn bản giao tiền. Bà R đã góp hụi “chết” được 12 kỳ, còn lại 10 kỳ chưa góp hụi “chết” nên bà D phải đứng ra tràn hụi “chết” cho bà R được 30.000.000 đồng.

Hiện tại, cả 02 dây hụi trên đều đã kết thúc. Tổng số tiền trong 02 dây hụi mà bà R chưa đóng hụi cho bà D là 80.000.000 đồng. Vì vậy, bà D yêu cầu bà R trả lại cho bà D tổng số tiền hụi gốc còn nợ 80.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, ý kiến của bà D: giữ nguyên khởi kiện đối với bà R về yêu cầu trả nợ tiền hụi 80.000.000 đồng, từ khi bà R rời khỏi địa phương, không có trả lại tiền hụi và cũng không thông tin nơi ở mới cho bà D biết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 195, 196, 197, 198 và Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: bà D khởi kiện, căn cứ vào Sổ hụi các ngày 10/4/2022; ngày 05/3/2022 và biên nhận giao hụi. Thể hiện bà R có tham gia hụi do bà D làm chủ và đã hốt hụi phù hợp lời khai của những người làm chứng. Từ đó, xác định bà R có tham gia hụi và còn nợ bà D tiền hụi 80.000.000 đồng nên bà D khởi kiện là có căn cứ.

Từ những phân tích nêu trên, căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng D, buộc bà Nguyễn Thị R trả cho bà Nguyễn Thị Hồng D số tiền 80.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phân tích, đánh giá và nhận định như sau:

[1] Bà D có đơn khởi kiện đối với bà R về yêu cầu trả lại tiền hụi. Bà R có nơi cư trú tại ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Do đó, quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp “hụi” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Bà D có mặt; bà R đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Bà D cho rằng “bà R có tham gia và đã hốt cả 02 dây hụi do bà D làm chủ hụi. Sau đó, bà R góp hụi “chết” không đầy đủ, đúng kỳ hạn nên yêu cầu bà R trả lại cho bà D tổng số tiền hụi 80.000.000 đồng”. Theo tài liệu là sổ hụi do bà D giao nộp, lời khai của những người tham gia chung dây hụi với bà R do Tòa án thu thập cho thấy, bà R là hụi viên có tham gia và đã hốt 02 dây hụi 5.000.000 đồng và 3.000.000 đồng do bà D làm chủ hụi. Như vậy, Tòa án xác định giữa bà D và bà R có xác lập giao dịch dân sự về hụi có nội dung và hình thức không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch về hụi.

[4] Quá trình thực hiện hụi theo định kỳ hằng tháng mở hụi cho đến khi chấm dứt dây hụi, khi đó hụi viên nào hốt hụi thì phải có trách nhiệm góp hụi “chết” đầy đủ, đúng kỳ hạn cho chủ hụi theo thỏa thuận. Tuy nhiên, sau khi hốt được 02 dây hụi, bà R đã nhận lãnh tiền hụi nhưng góp hụi “chết” cho bà D không đầy đủ. Qua đó, bà D phải góp thay hụi “chết” cho bà R theo 10 kỳ mở hụi còn lại của dây hụi 5.000.000 đồng và 10 kỳ mở hụi còn lại của dây hụi 3.000.000 đồng. Mặt khác, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà R nhằm tạo điều kiện, tổ chức hòa giải nhưng bà R không có văn bản ý kiến, vắng mặt không có lý do thì xem như đã bỏ mặc việc tham gia tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm.

[5] Bên cạnh đó, qua xác minh cho thấy, sau khi hốt hụi, bà R rời khỏi địa phương, cố tình giấu địa chỉ chỗ ở mới nhằm trốn tránh việc góp hụi “chết”, cũng như không hoàn lại tiền hụi “chết” đầy đủ cho chủ hụi bà D sau khi hụi chấm dứt, được xem là không thiện chí, vi phạm nghĩa vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bà D. Do đó, bà D yêu cầu bà R trả lại tiền hụi “chết” phải góp là có căn cứ; theo quy định Điều 3, Điều 10, Điều 274, Điều 275, Điều 471 Bộ luật dân sự; Điều 16, Điều 17, Điều 24 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường, Tòa án chấp nhận khởi kiện của bà D về yêu cầu bà R có trách nhiệm trả lại cho bà D tổng số tiền hụi gốc 80.000.000 đồng.

[6] Về án phí sơ thẩm: Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà D nên bà R phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu có giá ngạch theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 161, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 3, Điều 10, Điều 274, Điều 275, Điều 471 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điều 16, Điều 17, Điều 24 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;

Căn cứ khoản 3 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng D đối với bị đơn bà Nguyễn Thị R về yêu cầu trả lại tiền hụi;

Buộc bà Nguyễn Thị R phải có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị Hồng D tổng số tiền hụi gốc 80.000.000 đồng;

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí sơ thẩm: bà D được nhận lại tạm ứng án phí 2.000.000 đồng đã nộp theo biên lai số: 0015592 ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

Bà R phải chịu án phí 4.000.000 đồng.

3. Bà D có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày được tính từ ngày tuyên án. Bà R văng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

4. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới;
  • - Lưu: văn thư, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tâm Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2024/DS-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 122/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà D yêu cầu bà R trả tiền hụi "chết' do đã nhận lĩnh tiền hụi nhưng không góp hụi đầy đủ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger