Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2024/DS-ST

Ngày: 30/8/2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay

tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương Diệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Bà Trần Thị Mộng Thu;
  • 2/ Ông Nguyễn Văn Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Trinh, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26 và 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 26/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 01 năm 2024 về việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 150/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1980; thường trú: 114/9 An Mỹ - P, tổ A khu C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: số E đại lộ B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Tiến Thiên T, sinh năm 1983; thường trú: khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: số E đại lộ B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 15/12/2023), có mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1994; địa chỉ: đường D khu phố A, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Bà Huỳnh Thị N và ông Nguyễn Văn B có mối quen biết với nhau nên bà N nhiều lần cho ông B vay tiền, cụ thể như sau:

Ngày 20/4/2021, ông Nguyễn Văn B vay 250.000.000 đồng, theo giấy cho mượn tiền đề ngày 20/12/2021, thời hạn vay là 01 tháng từ ngày 20/4/2021 đến ngày 20/5/2021, các bên thỏa thuận bằng miệng lãi suất là 1,66%/tháng. Giấy cho mượn tiền được lập ngày 20/4/2021 nhưng do nhẫm lẫn nên ghi thành ngày 20/12/2021. Khi lập giấy vay tiền, bà N cho ông B vay 100.000.000 đồng, sau khi lập giấy thì ông B có nhu cầu vay thêm 150.000.000 đồng nên tại mặt sau của giấy cho mượn tiền có ghi thêm nội dung ngày 20/4 nhận thêm 150 triệu, tổng số tiền ông B vay là 250.000.000 đồng.

Ngày 25/5/2021, ông Nguyễn Văn B vay 150.000.000 đồng, theo giấy mượn tiền đề ngày 25/5/2021, thời hạn vay là 02 tháng tính từ ngày 25/5/2021 đến ngày 25/7/2021, các bên thỏa thuận bằng miệng lãi suất là 1,66%/tháng.

Ngày 14/11/2021, ông Nguyễn Văn B vay 200.000.000 đồng, theo giấy nhận tiền đề ngày 14/11/2021, các bên thỏa thuận bằng miệng thời hạn vay là 40 ngày, lãi suất 1,75%/40 ngày. Trong ngày 14/11/2021, bà Huỳnh Thị N tiếp tục cho ông Nguyễn Văn B vay 400.000.000 đồng, thời hạn vay là 40 ngày, thỏa thuận bằng miệng lãi suất 1,75%/40 ngày.

Ngày 19/11/2021, ông Nguyễn Văn B vay 300.000.000 đồng, theo giấy nhận tiền đề ngày 19/11/2011. Thực tế bà N cho ông B vay tiền vào ngày 19/11/2021 nhưng ghi nhầm năm 2021 thành năm 2011, thời hạn vay là 02 tháng, thỏa thuận bằng miệng lãi suất là 1,66%/tháng.

Tháng 10/2022, ông B vay 155.000.000 đồng, thời hạn vay 01 tháng, việc vay tiền không lập văn bản.

Tổng số tiền ông B vay 1.455.000.000 đồng. Sau khi ông B vay tiền của bà N, ông B chưa trả tiền gốc, lãi cho bà N nên bà N khởi kiện yêu cầu ông B trả số tiền 1.455.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 01/12/2022 đến ngày 01/5/2024 với mức lãi suất 2,5%/tháng x 17 tháng với số tiền 618.375.000 đồng.

Tại phiên tòa, nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với số tiền ông B vay vào tháng 10/2022 là 155.000.000 đồng. Đối với chứng cứ là sao kê tài khoản ngân hàng do ông B giao nộp, ông T thừa nhận ngày 15/11/2022, ông B đã chuyển khoản trả cho bà N 300.000.000 đồng nên số tiền ông B còn nợ là 1.000.000.000 đồng. Do đó, ông T yêu cầu ông B trả số tiền 1.000.000 đồng và lãi suất 20%/tháng tính từ ngày 01/12/2022 đến ngày 01/8/2024 là 20%/năm (1,66%/tháng) với số tiền 332.000.000 đồng.

Đối với chứng cứ là Hợp đồng ủy quyền ngày 03/6/2022 giữa bên ủy quyền là ông Nguyễn Văn B với bên nhận ủy quyền là bà Huỳnh Thị N, được Văn phòng C quyển số 06-2022 TP/CC-SCC/HĐGD, ông T thừa nhận bà N đang giữ bản chính Giấy CNQSDĐ số CS09456 cập nhật đăng ký biến động lần cuối ngày 19/12/2019, thửa đất số 363, tờ bản đồ số 22 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để đảm bảo cho việc ông B vay tiền bà N. Sau khi ông B trả hết số tiền còn nợ cho bà N, bà sẽ trả lại bản chính giấy CNQSDĐ cho ông B.

Bị đơn ông Nguyễn Văn B trình bày:

Ông B và bà N quen biết nhau vào năm 2017 do cùng làm môi giới bất động sản. Trước yêu cầu khởi kiện của bà N, ông B có ý kiến như sau:

Thống nhất với ý kiến trình bày của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn về việc ngày 20/4/2021, ông B vay của bà N 100.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 tháng kể từ ngày 20/4/2021 đến ngày 20/5/2021, có lập giấy vay tiền ghi ngày 20/12/2021 là do nhầm lẫn nhưng thực tế ông B vay tiền ngày 20/4/2021 nhưng lãi suất các bên thỏa thuận là 3%/tháng, không phải lãi suất là 1,66%/tháng như bà N trình bày.

Sau khi lập giấy vay tiền, ông B vay thêm 150.000.000 đồng, được ghi chung vào giấy vay tiền ngày 20/4/2021, ông B lăn tay vào giấy vay tiền này, đối với số tiền vay này các bên không thỏa thuận thời hạn vay, lãi suất 5%/tháng.

Sau đó, ông B có vay của bà N 400.000.000 đồng (mỗi lần 200.000.000 đồng), thông qua hình thức bà N chuyển khoản vào tài khoản của ông B, không thỏa thuận thời hạn vay, lãi suất thỏa thuận miệng từ 03-5%/tháng.

Ngày 14/11/2021, ông B vay 200.000.000 đồng, không thỏa thuận thời hạn cho vay, lãi suất từ 3-5%/tháng.

Tổng số tiền vay là 850.000.000 đồng. Ngày 15/11/2022, ông B đã thanh toán cho bà N 300.000.000 đồng qua hình thức chuyển khoản từ số tài khoản của ông B mở tại Ngân hàng TMCP Á, số tiền còn nợ là 550.000.000 đồng. Sau đó, giữa ông B và bà N có giao dịch vay tiền nhiều lần. Việc vay tiền, thanh toán lãi và gốc đều thực hiện qua tài khoản và bằng tiền mặt.

Để đảm bảo cho khoản vay với bà N, ông B có ký ủy quyền cho bà N thửa đất số thửa đất số 363, tờ bản đồ số 22 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Hợp đồng ủy quyền ngày 03/6/2022 giữa bên ủy quyền là ông Nguyễn Văn B với bên nhận ủy quyền là bà Huỳnh Thị N, được Văn phòng C quyển số 06-2022 TP/CC-SCC/HĐGD.

Đối với chứng cứ là giấy cho mượn tiền do bà N giao nộp, ông B thừa nhận chỉ ký và lăn tay vào giấy cho mượn tiền ngày 20/12/2021 với số tiền 100.000.000 đồng và nhận thêm 150.000.000 đồng ngày 20/4/2021, giấy vay tiền 14/11/2021 với số tiền 200.000.000 đồng. Còn giấy nhận tiền ngày 14/11/2021 vay số tiền 400.000.000 đồng và giấy nhận tiền ngày 19/11/2011 vay số tiền 300.000.000 đồng, giấy cho mượn tiền ngày 25/5/2021 với số tiền 150.000.000 đồng ông B không ký tên vào giấy này.

Tại phiên tòa, ông B không đồng ý với Kết luận giám định số 3168/KL-KTHS ngày 23/7/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh vì ông không ký tên vào 03 giấy vay tiền này nhưng ông B thừa nhận số tiền vay của bà N 1.300.000.000 đồng, đã thanh toán 300.000.000 đồng vào ngày 15/11/2022 thông qua hình thức chuyển khoản ngân hàng, số tiền còn lại là 1.000.000.000 đồng và đồng ý trả số tiền gốc cho bà N và thanh toán tiền lãi theo mức lãi suất 0,83%/tháng. Bà N có nghĩa vụ trả lại bản chính giấy CNQSDĐ cho ông B và yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng ủy quyền ngày

03/6/2022 giữa bên ủy quyền là ông Nguyễn Văn B với bên nhận ủy quyền là bà Huỳnh Thị N, được Văn phòng C quyển số 06-2022 TP/CC-SCC/HĐGD, buộc bà N trả lại bản chính Giấy CNQSDĐ số CS09456 cập nhật đăng ký biến động lần cuối ngày 19/12/2019 cho ông B là vô hiệu.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, các đương sự đã thực hiện đúng quy định.

Về nội dung: căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, sự thừa nhận của bị đơn ông Nguyễn Văn B có căn cứ xác định ông B có vay bà N số tiền 1.300.000.000 đồng, ông B đã thanh toán cho bà N 300.000.000 đồng, số tiền còn nợ là 1.000.000.000 đồng nên nguyên đơn yêu cầu thanh toán là có căn cứ chấp nhận.

Đối với yêu cầu tính lãi, nguyên đơn cho rằng việc vay tiền các bên thỏa thuận miệng lãi suất 2,5%/tháng, bị đơn cho rằng lãi suất miệng là 3-5%/tháng nhưng đều không đưa ra được tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất 20%/năm (1,66%/tháng) tính từ ngày 01/12/2022 đến ngày 01/8/2024 là 20 tháng với số tiền 332.000.000 đồng là không có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, buộc bị đơn ông Nguyễn Văn B trả cho nguyên đơn tiền lãi với mức lãi suất là 10%/năm (0,83%/tháng).

Đối với Hợp đồng ủy quyền ngày 03/6/2022 giữa bên ủy quyền là ông Nguyễn Văn B với bên nhận ủy quyền là bà Huỳnh Thị N, được Văn phòng C quyển số 06-2022 TP/CC-SCC/HĐGD là giả tạo để che đậy cho việc vay tiền giữa ông B với bà N, hiện bà N đang giữ bản chính Giấy CNQSDĐ số CS09456 cập nhật đăng ký biến động lần cuối ngày 19/12/2019. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên hợp đồng ủy quyền vô hiệu, buộc bà N trả lại cho ông B bản chính giấy CNQSDĐ sau khi ông B thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho bà N.

Đối với việc nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 155.000.000 đồng, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Nguyên đơn bà Huỳnh Thị N khởi kiện bị đơn ông Nguyễn Văn B về việc yêu cầu ông B thanh toán nợ gốc và lãi 1.332.000.000 đồng. Bị đơn ông B cư trú tại đường D, khu phố A, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Căn cứ khoản 3 Điều 26 và Điều 39, đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[2] Tại phiên tòa, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn về việc yêu cầu trả số tiền 155.000.000 đồng. Căn cứ Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị N với bị đơn ông Nguyễn Văn B.

[3] Theo các giấy cho mượn tiền đề ngày 20/12/2021 (thực tế là ngày 20/4/2021) số tiền 250.000.000 đồng, ngày 25/5/2021 số tiền 150.000.000 đồng, giấy nhận tiền ngày 14/11/2021 số tiền 200.000.000 đồng, giấy nhận tiền ngày 14/11/2021 số tiền 400.000.000 đồng, giấy nhận tiền ngày 19/11/2011 (thực tế năm 2011) số tiền 300.000.000 đồng, tổng số tiền ông B nợ bà N là 1.300.000.000 đồng, ông B đã trả 300.000.000 đồng, số tiền còn lại chưa trả là 1.000.000.000 đồng. Bị đơn ông B thừa nhận chữ ký trong giấy vay tiền ngày 20/12/2021 với số tiền 250.000.000 đồng, giấy nhận tiền ngày 14/11/2021 với số tiền 200.000.000 đồng. Đối với giấy nhận tiền ngày 14/11/2021 số tiền 400.000.000 đồng, giấy nhận tiền ngày 19/11/2011 vay số tiền 300.000.000 đồng, giấy cho mượn tiền ngày 25/5/2021 với số tiền 150.000.000 đồng ông B không ký tên vào giấy này. Tại Kết luận giám định số 3168/KL-KTHS ngày 23/7/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận chữ ký trên các giấy nhận tiền ngày 14/11/2012, ngày 19/11/2011, ngày 25/5/2021 là do ông B viết. Ông B không đồng ý kết luận giám định nhưng lại thừa nhận còn nợ bà N 1.000.000.000 đồng và đồng ý trả cho bà N nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N, buộc ông B trả cho bà N số nợ gốc 1.000.000.000 đồng.

[4] Nguyên đơn bà Huỳnh Thị N yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn B thanh toán tiền lãi theo mức lãi suất 20%/năm (1,66%/tháng) tính từ ngày 01/12/2022 đến ngày 01/8/2024 với số tiền 332.000.000 đồng, xét thấy: quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận việc vay tiền giữa ông B và bà N có thỏa thuận miệng lãi suất nhưng không thống nhất về mức lãi suất cho vay. Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ”. Đối chiếu quy định viện dẫn, trong trường hợp này có tranh chấp về lãi suất nên lãi suất được áp dụng là 10%/năm (0,83%/tháng) x 1.000.000.000 đồng x 20 tháng = 166.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu lãi của nguyên đơn, không chấp nhận số tiền lãi 166.000.000 đồng.

[5] Đối với Hợp đồng ủy quyền ngày 03/6/2022 giữa bên ủy quyền là ông Nguyễn Văn B với bên nhận ủy quyền là bà Huỳnh Thị N, được Văn phòng C quyển số 06-2022 TP/CC-SCC/HĐGD, bà N và ông B đều thừa nhận việc ký hợp đồng ủy quyền này là bảo đảm cho việc vay tiền giữa ông B với bà N, bà N đang giữ bản chính Giấy CNQSDĐ số CS09456 cấp ngày 30/5/2018, cập nhật đăng ký biến động lần cuối ngày 19/12/2019, thửa đất số 363, tờ bản đồ số 22, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ban hành Thông báo yêu cầu các đương sự cung cấp chứng cứ liên quan đến việc ủy quyền nêu trên nhưng nguyên đơn và bị đơn đều không cung cấp. Tại

phiên tòa, bị đơn ông B cung cấp hợp đồng ủy quyền này và yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết đối với hợp đồng ủy quyền, buộc bà N trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Xét thấy, việc ủy quyền che đậy cho việc vay tài sản nên giao dịch dân sự này bị vô hiệu theo quy định tại Điều 124 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, để giải quyết vụ án toàn diện, triệt để, tránh phát sinh một vụ kiện khác, Hội đồng xét xử có căn cứ xác dịnh hợp đồng ủy quyền này vô hiệu, buộc bà N trả lại cho ông B bản chính Giấy CNQSDĐ số CS09456 cấp ngày 30/5/2018, cập nhật đăng ký biến động lần cuối ngày 19/12/2019, thửa đất số 363, tờ bản đồ số 22, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.

[6] Về chi phí tố tụng (chi phí giám định): Bị đơn ông Nguyễn Văn B phải chịu theo quy định của pháp luật.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Các Điều 26, 35, 147, 227, 228, 235, 259, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 124, 131, 357, 463, 465, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • - Nghị quyết số 326/201 6/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị N đối với bị đơn ông Nguyễn Văn B về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn B trả số tiền 155.000.000 đồng (Một trăm năm mươi lăm triệu đồng).

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị N đối với bị đơn ông Nguyễn Văn B về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

2.1 Tuyên Hợp đồng ủy quyền giữa bên ủy quyền là ông Nguyễn Văn B với bên nhận ủy quyền là bà Huỳnh Thị N, được Văn phòng C công chứng số 011376 quyển số 06-2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 03/6/2022 là vô hiệu.

2.2 Buộc ông Nguyễn Văn B có nghĩa vụ trả cho bà Huỳnh Thị N số tiền 1.166.000.000 đồng (Một tỷ một trăm sáu mươi sáu triệu đồng), trong đó nợ gốc: 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), tiền lãi 166.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi sáu triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2.3 Bà Huỳnh Thị N có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Văn B bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09456 cấp ngày 30/5/2018, cập nhật đăng ký biến động lần cuối ngày 19/12/2019, thửa đất số 363, tờ bản đồ số 22, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương ngay sau khi ông Nguyễn Văn B thanh toán cho bà Huỳnh Thị N số tiền 1.166.000.000 đồng (Một tỷ một trăm sáu mươi sáu triệu đồng)

3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị N đối với ông Nguyễn Văn B về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn B thanh toán tiền lãi 166.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi sáu triệu đồng).

4. Về chi phí giám định: 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng), ông Nguyễn Văn B phải nộp lại số tiền này để trả lại cho bà Huỳnh Thị N.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Huỳnh Thị N phải chịu 8.300.000 đồng (Tám triệu ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào 36.733.500 đồng (Ba mươi sáu triệu bảy trăm ba mươi ba nghìn năm trăm đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001871 ngày 15/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Trả lại cho bà Huỳnh Thị N 28.433.500 đồng (Hai mươi tám triệu bốn trăm ba mươi ba nghìn năm trăm đồng).

Ông Nguyễn Văn B phải chịu 46.980.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng).

Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Hương Diệp

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Thảo

Trần Thị Mộng T1

Phạm Thị Hương D

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 122/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HĐ vay tài sản Huỳnh Thị Nh - Nguyễn Văn B
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger