|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số 122/2024/HSST
Ngày 23 - 5 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường.
Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Ngôn và ông Nguyễn Quang Kim.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Mai- Kiểm sát viên.
Trong ngày 16, 17 tháng 4 năm 2024 và ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 230/2023/TLST-HS ngày 01/12/2023; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 240/2023/QĐXXST-HS ngày 28/12/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2024/QĐ-HS ngày 15/01/2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 01/2024/QĐ-HS ngày 14/02/2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 02/2024/QĐ-HS ngày 15/3/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 01/2024/QĐ-HS ngày 17/4/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2024/QĐ-HS ngày 23/4/2024 đối với bị cáo:
Họ tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1984. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: không. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12. Con ông: Nguyễn Văn T (đã chết). Con bà: Nguyễn Thị M. Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ năm. Vợ: Tô Thị Đ, sinh năm 1991. Con: bị cáo có ba con, con lớn, sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đầu thú, không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
Người bảo chữa cho bị cáo H là Luật sư Hoàng Văn T1 thuộc Chi nhánh Công ty L1- Đoàn Luật sư thành phố H. Địa chỉ: số B chợ Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên. (có mặt tại phiên toà ngày 16 và 17/4/2024, vắng mặt tại phiên toà ngày 23/5/2024)
- Bị hại: Anh Hoàng Văn T2, sinh năm 1976. Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Tống Văn S, sinh năm 1990; Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (có mặt tại phiên toà ngày 16 và 17/4/2024, vắng mặt tại phiên toà ngày 23/5/2024)
- Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1983; Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (có mặt tại phiên toà ngày 16 và 17/4/2024, vắng mặt tại phiên toà ngày 23/5/2024)
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1955. Địa chỉ: Tổ dân phố K, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (có mặt tại phiên toà ngày 16 và 17/4/2024, vắng mặt tại phiên toà ngày 23/5/2024)
- Anh Thân Đức S2, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn Q, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (có mặt tại phiên toà ngày 16 và 17/4/2024, vắng mặt tại phiên toà ngày 23/5/2024).
- Chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1985. Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)
- Anh Đặng Văn Đ1, sinh năm 1983. Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (có mặt tại phiên toà ngày 16 và 17/4/2024, vắng mặt tại phiên toà ngày 23/5/2024).
- Anh Tống Văn T3, sinh năm 1981. Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
- Ông Tống Văn S3, sinh năm 1985, địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (có mặt tại phiên toà ngày 16 và 17/4/2024, vắng mặt tại phiên toà ngày 23/5/2024).
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1984 và anh Hoàng Văn T2, sinh năm 1976 cùng vợ là chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1985 là hàng xóm, ở cạnh nhau tại tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 09/4/2023, H đến dự tiệc khai trương quán Spa của anh anh Tống Văn S, sinh năm 1990, ở tại tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện V thì gặp vợ chồng anh T2 cũng đến dự tiệc. H và anh T2 được sắp xếp ngồi trong cùng bàn tiệc hình chữ nhật với anh Nguyễn Ngọc S4, sinh năm 1986, anh Đặng Văn Đ1, sinh năm 1983, anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1981 đều ở cùng tổ dân phố với H và ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1955, trú tại tổ dân phố K, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang; chị H1 được sắp xếp ngồi ở bàn tiệc bên cạnh. Trong bàn tiệc, một bên H ngồi đầu bàn, tiếp đến anh T2, anh Đ1 ngồi cuối bàn; bên đối diện thì anh T4 ngồi đầu bàn đối diện với H, anh S4 ngồi giữa, ông S1 ngồi cuối trong cùng. H cùng mọi người ngồi ăn, uống rượu được khoảng 10 phút, anh T2 cầm chén rượu đứng dậy xin đi
sang bàn khác để mời rượu giao lưu. Thấy vậy, H không đồng ý, đẩy anh T2 ngồi lại xuống ghế của anh T2, làm chén rượu đang cầm trên tay anh T2 rơi xuống mặt bàn, rượu bắn vào người H. Lúc này, anh T2 ngồi lại ghế của mình thì H và anh T2 xảy ra cãi nhau. Chị H1 ngồi ở bàn bên cạnh bảo anh T2 đứng dậy, không ngồi cùng bàn với H thì lập tức H mắng chửi lại chị H1 và anh T2. Sau đó trong lúc cãi nhau, thấy anh T2 xưng hô “Mày- tao”, cho rằng anh T2 không tôn trọng Hiệp, nên H đứng dậy dùng tay phải cầm miệng chiếc bát bằng sứ (loại bát con dùng ăn cơm, hình bán cầu, đường kính miệng bát rộng 11cm, đường kính đáy bát rộng 4,5cm) ở mặt bàn giơ lên đập một nhát phần đáy bát theo hướng từ trước về sau trúng vào vùng mũi anh T2, làm anh T2 bị thương chảy máu. Thấy vậy, mọi người vào can ngăn không cho đánh nhau, H bỏ lại bát ở bàn tiệc rồi bỏ đi, anh T2 được chị H1 đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B điều trị thương tích, đến ngày 20/4/2023 thì ra viện.
Ngày 10/4/2023, anh Hoàng Văn T2 làm đơn trình báo hành vi cố ý gây thương tích của H đến Công an thị trấn B, huyện V. Cùng ngày, Công an thị trấn B tiến hành xác định hiện trường và thu giữ tại camera an ninh nhà anh Tống Văn S 01 đoạn video ghi lại một phần diễn biến sự việc H gây thương tích đối với anh T2.
Ngày 17/4/2023, Công an thị trấn B chuyển hồ sơ vụ việc H gây thương tích cho anh T2 cùng vật chứng có liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 14/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V thu giữ của anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1983, ở tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang là người cho gia đình anh S thuê bát dùng ăn cơm khi mở tiệc vào ngày 09/4/2023: 02 chiếc bát con dạng bát ăn cơm có hình bán cầu, trong đó 01 chiếc bằng sứ, màu trắng, đường kính miệng bát rộng 11cm, đường kính đáy bát rộng 4,5cm, dưới đáy bát có chữ “Thái Bình” và 01 chiếc bằng nhựa, màu xanh, đường kính miệng bát rộng 11cm và đường kính đáy bát rộng 5,5cm, dưới đáy bát có chữ "Song long Plastic".
Ngày 20/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V thu giữ được trong điện thoại di động Iphone 11 Pro Max của chị Nguyễn Thị Thu H1, hình ảnh video ghi lại hình ảnh anh T2 bị chảy máu vùng mũi (tại vùng sây sát da mũi và từ trong hai lỗ mũi ra bên ngoài) do chị H1 dùng điện thoại quay lại khi anh T2 bị H đánh gây thương tích.
Tại Bệnh án tai- mũi- họng của Bệnh viện đa khoa tỉnh B thể hiện anh Hoàng Văn T2 vào viện điều trị thương tích từ ngày 09/4/2023 đến ngày 20/4/2023 thì ra viện, với thương tích: Gãy xương chính mũi, sây sát sưng nề mũi.
Tại bản Kết luận giám định số 1384/23/KLTTCT-TTPY ngày 04/5/2023 của Trung tâm pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận về thương tích của anh Hoàng Văn T2: Thương tích vết sẹo kích thước nhỏ sống mũi + CT-Scanner hàm mặt: Gãy xương chính mũi, gãy vách ngăn mũi xương: 12%. Thương tích do vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng gây thương tích.
Tại bản kết luận giám định bổ sung vật gây thương tích số 1422/23/KLVGTT-TTPY ngày 19/5/2023 của Trung tâm pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận: đối với 02 chiếc bát con ăn cơm thu giữ của anh Q là các vật gây ra được thương tích của anh Hoàng Văn T2 như hồ sơ bệnh án.
Tại văn bản số 34/BVĐK-TTPY ngày 31/5/2023, Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B giải thích kết luận giám định số 1384/23/KLTTCT-TTPY ngày 04/5/2023 về thương tích của anh Hoàng Văn T2 thể hiện: Nguyễn Văn H dùng tay đấm gây được thương tích cho anh Hoàng Văn T2 theo hồ sơ bệnh án.
Ngày 05/6/2023, Nguyễn Văn H có đơn không đồng ý với kết quả giám định pháp y tại bản Kết luận số 1384/23/KLTTCT-TTPY ngày 04/5/2023 của Trung tâm pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh B đối với thương tích của anh Hoàng Văn T2 vì cho rằng kết quả giám định trên không khách quan, đề nghị giám định lại thương tích.
Ngày 08/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu Viện pháp y Quốc gia giám định lại thương tích của anh Hoàng Văn T2.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 117/23/KLTTCT- PYQG ngày 26 tháng 6 năm 2023 của V kết luận: Sẹo vùng gốc mũi kích thước nhỏ. Gãy xương chính mũi đã phẫu thuật hiện tại không biến dạng hay mất liên lục. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của anh T2 là: 12%. Thương tích vùng mũi của anh Hoàng Văn T2 do vật tày tác động trực tiếp theo chiều hướng từ trước sau gây ra. Chiếc bát sứ màu trắng gửi đến giám định (bát thu của anh Q) có thể gây nên thương tích của Hoàng Văn T2. Chiếc bát nhựa màu xanh gửi đến giám định (bát thu của anh Q) không thể gây nên thương tích của anh Hoàng Văn T2. Dùng tay đấm không gây được thương tích cho anh Hoàng Văn T2 theo hồ sơ bệnh án.
Do kết luận giám định về vật gây thương tích của Trung tâm pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh B và V đối với thương tích của anh T2 có mâu thuẫn nên ngày 27/7/2023, Cơ quan điều tra đã trưng cầu Viện pháp y Quốc gia giám định lại lần hai đối với vật gây thương tích cho anh Hoàng Văn T2.
Tại Kết luận giám định lại lần thứ hai tổn thương cơ thể trên người sống số 167/KLTTCT- PYQG ngày 18/9/2023 của V kết luận: Chiếc bát nhựa màu xanh gửi đến giám định khi tác động trực tiếp vào vùng mũi có khả năng gây ra thương tích cho anh Hoàng Văn T2 theo hồ sơ bệnh án. Dùng tay đấm vào vùng mũi có thể gây ra thương tích cho anh Hoàng Văn T2 theo hồ sơ bệnh án.
Tại văn bản số 80/ BVĐK-TTPY ngày 01/11/2023, Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B giải thích kết luận giám định số 1384/23/KLTTCT-TTPY ngày 04/5/2023 của anh Hoàng Văn T2: Nguyễn Văn H dùng tay đấm (có móng tay) hay dùng bát đập đều gây được vết sẹo sống mũi cho anh Hoàng Văn T2.
Tại văn bản số 338/ BVĐK-TTPY ngày 22/5/2024, V giải thích về ngày kết luận giám định pháp y ngày 26/6/2023 và ngày 18/9/2023 như sau:
- Kíp giám định ngày 26/6/2023: Đánh giá tình huống cụ thể trong kết luận tổng thể nhiều nội dung khi xác định các tình huống thường gặp căn cứ vào trọng lượng vật khi tác động vị trí mũi bị tác động và đặc điểm vết thương ở mũi đặc điểm cây gãy xương mũi đặc điểm tính chất cạnh bát của bát nhựa màu xanh và chiếc bát sứ màu trắng được gửi đến giám định: chiếc bát nhựa màu xanh không có khả năng gây tổn thương; bàn tay khi tác động trực tiếp trong những tư thế phổ biến đặc điểm tính chất vị trí tác động nắm chặt tạo các mặt phẳng hoặc cạnh dài khi tác động trực diện thông thường không có khả năng gây ra Các thương tích dẫn đến xây xát rách ra gây gãy xương gây gãy sập xương chính mũi di lệch nhiều hoặc tổn thương lan rộng phức tạp. Hội đồng giám định lần 2 ngày 26 tháng 6 a ngày 18 tháng 9 năm 2023 như sau. Xác định khả năng gây thương tích trong các tình huống thường gặp gây thương tích tuy nhiên ở một số tình huống tác động đặc biệt có khả năng gây ra được thương tích vùng mũi của hoàng văn thắng căn cứ tính chất trước bát nhựa màu xanh có tính chất cứng nếu khi tác động phần đáy bát trực tiếp bởi lực đủ mạnh như cầm đập hoặc tác động tương hỗ với cơ thể có thể gây ra được các thương tích xây xát da ở mũi và gãy xương chính mũi của Hoàng Văn T2 đối với bạn tay khi nắm chặt không có tròn bàn tay. Có các điểm lồi hoặc đều hoặc đầu ngón tạo các điểm nhô ra tiếp xúc tác động trực tiếp với tư thế và khoảng cách phù hợp tạo lực tác động mạnh cũng có thể gây ra thương tích xây xát da ở mũi và gãy xương chính mũi của Hoàng Văn T2 việc đánh giá nhận định độc lập. Của các giám định viên và các kíp giám định dựa trên cơ sở câu hỏi của cơ quan trưng cầu nghiên cứu thương tích của hoàng văn thắng trực tiếp giám định nhận định đánh giá khả năng gây thương tích trên cơ sở giả định Các thương tích dẫn đến xây xát rách ra gây gãy xương gây gãy sập xương chính mũi di lệch nhiều hoặc tổn thương lan rộng phức tạp.
Hội đồng giám định lần 2 ngày 18/9/2023: Xác định khả năng gây thương tích trong các tình huống thường gặp gây thương tích tuy nhiên ở một số tình huống tác động đặc biệt có khả năng gây ra được thương tích vùng mũi của Hoàng Văn T2 căn cứ tính chất chiếc bát nhựa màu xanh có tính chất cứng nếu khi tác động phần đáy bát trực tiếp bởi lực đủ mạnh như cầm đập hoặc tác động tương hỗ với cơ thể có thể gây ra được các thương tích xây xát da ở mũi và gãy xương chính mũi của Hoàng Văn T2. Đối với bạn tay khi nắm chặt không vo tròn bàn tay, có các điểm lồi hoặc đều hoặc đầu ngón tạo các điểm nhô ra tiếp xúc tác động trực tiếp với tư thế và khoảng cách phù hợp tạo lực tác động mạnh cũng có thể gây ra thương tích xây xát da ở mũi và gây gẫy xương chính mũi của Hoàng Văn T2. Việc đánh giá nhận định độc lập của các giám định viên và các kíp giám định dựa trên cơ sở câu hỏi của cơ quan trưng cầu, nghiên cứu thương tích của Hoàng Văn T2 trực tiếp giám định nhận định đánh giá khả năng gây thương tích trên cơ sở giả định. Các tình huống theo quyết định trưng cầu trả lời về khả năng gây tổn thương nên kết quả các kết luận có thể sẽ khác nhau.
Trong giai đoạn điều tra vụ án, Nguyễn Văn H không thừa nhận dùng bát con bằng sứ đánh gây thương tích cho anh T2, chỉ thừa nhận dùng tay phải đấm 01 nhát vào vùng mũi anh T2 dẫn đến anh T2 bị thương tích như trong hồ sơ bệnh án.
Ngày 10/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V, tỉnh Bắc Giang cho Nguyễn Văn H, anh Hoàng Văn T2 tự thực nghiệm lại sự việc anh T2 bị H gây thương tích theo lời khai của các bên. Theo đó, H khai và thực nghiệm hành vi dùng tay đấm vào vùng mũi anh T2; anh T2 thực nghiệm hành vi H dùng bát con bằng sứ đập vào vùng mũi anh T2 như diễn biến nêu trên. Kết quả thể hiện: thực nghiệm theo lời khai của anh T2 thì gây được thương tích như nêu trên; còn thực nghiệm theo lời khai của H dùng tay đấm không gây được vết sây sát da tại vị trí thương tích của anh T2 trong hồ sơ bệnh án.
Ngày 25/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V cho anh T2 xác định 02 chiếc bát con thu giữ của anh Q để xác định chiếc bát H dùng gây thương tích. Kết quả, anh T2 xác định chiếc bát con bằng sứ thu của anh Q là bát có đặc điểm giống với chiếc bát H dùng đánh gây thương tích cho anh T2 vào ngày 09/4/2023.
Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V tiến hành cho anh Hoàng Văn T2 và chị Nguyễn Thị Thu H1 và ông Nguyễn văn S5 là người khẳng định H dùng bát con bằng sứ đánh anh T2 vào vùng mũi đối chất với Nguyễn Văn H về vật gây thương tích cho anh T2 vào ngày 09/4/2023. Kết quả: anh T2, chị H1 tham gia đối chất với H, ông S5 từ chối đối chất vì là người quen biết với H nhưng vẫn giữ nguyên lời khai trước đó khẳng định H sử dụng bát con bằng sứ đánh anh T2 như anh T2, chị H1 khai; H vẫn giữ nguyên lời khai của mình.
Mặc dù Nguyễn Văn H không thừa nhận việc dùng bát con bằng sứ đánh gây thương tích cho anh T2 như nêu trên. Tuy nhiên, căn cứ lời khai của bị hại, nhân chứng, vật chứng thu giữ, kết quả giám định, thực nghiệm và các chứng cứ khác nêu trên có đủ căn cứ kết luận H dùng bát con bằng sứ đánh gây thương tích vùng mũi cho anh T2 vào ngày 09/4/2023 như diễn biến nêu trên và trong hồ sơ bệnh án.
Đối với 01 chiếc bát con bằng sứ H dùng đánh anh T2, do sau khi sự việc xảy ra, gia đình anh S6 đã thu dọn để lẫn vào các chiếc bát khác, sau đó trả lại cho anh Q nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Hai chiếc bát con thu giữ của anh Q nêu trên là tài sản của anh Q, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng để giải quyết theo quy định pháp luật.
Trách nhiệm dân sự: Anh T2 yêu cầu H phải bồi thường 165.860.876 đồng bao gồm các khoản tiền về tổn hại sức khỏe, mất thu nhập, tổn thất tinh thần, viện phí. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo H chưa bồi thường khoản tiền nào cho anh T2.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo vẫn thừa nhận là mình có gây thương tích cho anh T2 nhưng dùng tay chứ không dùng bát và việc H gây thương tích cho anh T2 không đến mức như kết quả giám định nêu.
Tại phiên toà và quá trình tố tụng, những người làm chứng khai nhận như sau:
Ông Nguyễn Văn S1 có lời khai ban đầu với cơ quan điều tra và khẳng định: ông có mặt ở nơi xảy ra xô sát; thời điểm đó ông ngồi cùng mâm với H và T2, H sử dụng bát con bằng sứ đánh anh T2. Nhưng các lời khai sau trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, ông S1 khai: Thời điểm đó ông ngồi cùng mâm với H và anh T2 nhưng ông ngoảnh đi hướng khác, không để ý và không chứng kiến việc H đánh anh T2. Việc lời qua tiến lại giữa hai người thì ông cũng không biết. Đến nay do thời gian xảy ra đã lâu và khi xảy sô sát giữa bị cáo H và anh T2 ông S1 đã uống rượu nên ông cũng không nhớ được rõ sự việc
Anh Đặng Văn Đ1, anh Tống Văn T3 và anh Tống Văn S3 đều khai nhận mình có mặt và ăn uống cùng mâm với bị cáo và anh T2 nhưng mình không chứng kiến việc bị cáo đánh anh T2.
Chị Nguyễn Thị Thu H1 khai: Chị có mặt ở nơi xẩy ra việc bị cáo H đánh anh thắng. Chị H1 ngồi ở bàn bên cạnh bảo anh T2 đứng dậy, không ngồi cùng bàn với H thì lập tức H mắng chửi lại chị H1 và anh T2. Sau đó trong lúc cãi nhau, thấy anh T2 xưng hô “Mày- tao”, cho rằng anh T2 không tôn trọng Hiệp, nên H đứng dậy dùng tay phải cầm miệng chiếc bát bằng sứ loại bát con dùng ăn cơm ở mặt bàn giơ lên đập một nhát trúng vào vùng mũi anh T2, làm anh T2 bị thương chảy máu. Ngay sau đó được mọi người can ngăn.
Anh Thân Đức S2 khai: Anh có quen biết với anh T2, anh cũng biết bị cáo H (do một số lần đi xem đá bóng có thấy bị cáo H đi xem). Ngày 09/4/2023, anh có công việc phải đi taxi từ thành phố B về xã T, huyện V. Khi đi đến ngã tư đèn xanh đỏ thuộc tổ dân phố Đ (thường gọi là ngã tư làng Đ), thị trấn B thì xe dừng đèn đỏ, anh S2 nhìn thấy bên kia đường có sô sát, anh nhìn thấy bị cáo H dùng bát con ăn cơm đập vào mặt anh T2. Khoảng cách từ chỗ taxi dừng đèn đỏ đến chỗ anh T2 bị H đánh khoảng 15-17 mét.
Bản cáo trạng số 212/CT-VKS ngày 24/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V) truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự).
Trong phiên xét xử ngày 16 và 17/4/2024, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị HĐXX:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; khoản 2 Điều 51, Điều 38, Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 02 năm 06 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn từ tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 2 Điều 48 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự: Chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường dân sự của anh Hoàng Văn T2 gồm: 7.360.876 đồng tiền viện phí- có hóa đơn. Tiền bồi dưỡng sức khỏe trong thời gian điều trị thương tích (10 ngày nội trú trong bệnh viện)- không hóa đơn: 500.000 đồng/ ngày x 10 ngày = 5.000.000 đồng. Tiền thuê xe đi bệnh viện (không hóa đơn): 500.000 đồng; Tiền tổn thất về tinh thần: 05 tháng lương cơ sở: 1.800.000 đồng x 5 = 9.000.000 đồng. Tiền mất
thu nhập: 1 tháng 23.000.000 đồng. Tiền thuê người chăm sóc 10 ngày ở bệnh viện: 300.000đ/ ngày x 10 ngày = 3.000.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường: 47.360.876 đồng. Bị cáo đã tạm nộp trước số tiền 10.000.000 đồng vào Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Việt Yên để bồi thường cho anh T2 nên bị cáo còn phải bồi thường cho anh T2 số tiền là 37.360.876 đồng.
Ngoài ra còn đề nghị về án phí và xử lý vật chứng.
Tại phần tranh luận, bị cáo và Luật sư bào chữa cho bị cáo có ý kiến tranh luận như sau: Bị cáo và Luật sư cho rằng do bị cáo và bị hại có mâu thuẫn với nhau từ trước ngày 09/4/2023. Tại thời điểm xảy ra sự việc (ngày 09/4/2023) trước khi bị cáo sô sát với bị hại thì bị hại đã đổ rượu vào áo của bị cáo trước nên bị cáo mới bực tức và to tiếng với bị hại, đó không phải hành vi côn đồ như Viện kiểm sát nhận định. Và cũng không có căn cứ nào để xác định bị cáo dùng bát ăn cơm nằng sứ để đánh bị hại vì: Không có việc anh Hoàng Văn T2 điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B từ ngày 09/4/2023 đến ngày 20/4/2023 như hồ sơ bệnh án thể hiện bởi vì ngày 10/4/2023 và ngày 19/4/2023, anh T2 vẫn có mặt tại Cơ quan công an thị trấn B và Cơ quan Công an huyện V; Việc bị hại khám chữa bệnh và tiến hành làm phẫu thuật tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B chưa đúng quy trình. Các kết quả giám định của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B, V, giám định thương tích của bị hại không khách quan, lộn xộn, không rõ ràng nên Tòa án cần làm việc với Giám đốc Bệnh viện đa khoa tỉnh B để xác định rõ quy trình điều trị thương tích của anh T2, cần triệu tập Giám định viên của V tham gia phiên tòa để làm rõ các thương tích. Đối với 02 chiếc bát ăn cơm thu của anh Q không phải là vật chứng của vụ án nhưng Cơ quan điều tra thu giữ và xác định đó là vật chứng của vụ án là không đúng, là vi phạm tố tụng vì trong số bát nhà anh S thuê của nhà anh Q rất nhiều, không thể xác định chính xác 02 chiếc bát mà Cơ quan điều tra thu của anh Q chính là chiếc bát bị cáo dùng đánh bị hại. Việc Viện kiểm sát tự ý lấy lời khai của người làm chứng anh Thân Đức S2 là không đúng vì nếu xác định có người làm chứng mới thì phải trả hồ sơ yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra. Từ những căn cứ trên, đề nghị Tòa án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung đối với vụ án đồng thời trưng cầu Viện Pháp y Quân đội giám định lại thương tích của người bị hại.
Người bị hại, người liên quan và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến tranh luận gì với Viện kiểm sát.
Kiểm sát viên đã lập luận, đối đáp với các nội dung tranh luận mà bị cáo cũng như Luật sư bào chữa cho bị cáo đưa ra như sau: Tuy bị cáo không thừa nhận dùng bát ăn cơm đánh vào mặt của anh T2 nhưng lời khai của anh T2, của chị H1- vợ anh T2, lời khai ban đầu của ông Nguyễn Văn S1 và lời khai của anh Thân Đức S2 đều khẳng định bị cáo dùng bát ăn cơm đánh gây thương tích cho anh T2. Mặc dù bị cáo và anh T2 có mâu thuẫn với nhau từ trước nhưng tại bữa tiệc khai trương của gia đình anh S, chỉ vì bực tức với anh T2 đã làm đổ rượu vào người mình và có lời lẽ xưng hô “mày- tao” với mình, đó là những duyên cớ nhỏ nhặt nhưng bị cáo đã đánh gây thương tích cho anh T2 thì hành vi của bị cáo là “côn đồ”. Đối với việc thu giữ vật chứng là 02 chiếc bát ăn cơm (01 bát nhựa, 01
bát sứ) của Cơ quan điều tra, tuy không xác định 02 chiếc bát này chính là chiếc bát mà bị cáo sử dụng để gây thương tích cho người bị hại nhưng quá trình xác minh, giải quyết vụ việc, theo lời khai của người bị hại và những người làm chứng khai bị cáo đã dùng bát ăn cơm để đánh gây thương tích cho người bị hại nên Cơ quan điều tra xác định đây là vật tương tự với vật đã gây thương tích cho bị hại nên tiến hành thu giữ để trưng cầu giám định. Đối với kết quả điều trị thương tích của anh T2 tại Bệnh viện và các kết quả giám định thương tích là các kết quả của cơ quan chuyên môn và được thực hiện theo đúng quy trình tố tụng, việc anh T2 có điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh B hay không được thể hiện trong hồ sơ bệnh án mà Bệnh viện đa khoa tỉnh đã cung cấp cho Cơ quan điều tra và thể hiện trong hồ sơ vụ án nên không cần thiết phải làm việc với Bệnh viện đa khoa tỉnh B cũng như không cần triệu tập V tham gia phiên tòa. Việc Viện kiểm sát triệu tập và lấy lời khai của anh Thân Đức S2 được thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 185 và khoản 5 Điều 186 Bộ luật Tố tụng hình sự, không vi phạm tố tụng. Do đó, Viện kiểm sát bác bỏ các nội dung tranh luận của Luật sư, của bị cáo, giữ nguyên quan điểm luận tội.
Kết thúc phần tranh luận, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải làm rõ nội dung trong các kết luận giám định của V nên đã Quyết định tạm ngừng phiên tòa để ra văn bản đề nghị V giải thích quy trình giám định cũng như kết quả giám định.
Tại phiên tòa ngày 23/5/2024, bị cáo xuất trình được tài liệu đã bồi thường trách nhiệm dân sự cho người bị hại là 50.000.000 đồng. Người bị hại không có yêu cầu gì khác và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo vẫn chỉ thừa nhận dùng tay gây thương tích cho người bị hại, không thừa nhận dùng bát sứ ăn cơm để gây thương tích.
Đại diện Viện kiểm sát quan điểm luận tội như sau:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn từ tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Do bị cáo đã bồi thường dân sự cho người bị hại, người bị hại nhận bồi thường và không có yêu cầu, đề nghị gì khác nên không đặt ra xem xét.
Ngoài ra còn đề nghị xử lý về vật chứng và án phí.
Bị cáo có tranh luận về mức hình phạt mà Viện kiểm đề nghị áp dụng đối với bị cáo là cao và quá nghiêm khắc.
Kiểm sát viên đối đáp lại và giữ nguyên quan điểm luận tội.
XÉT THẤY:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiên hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo H thừa nhận là thương tích của anh T2 hoàn toàn do bị cáo gây lên, nhưng bị cáo không thừa nhận mình dùng bát đập vào mặt anh T2 mà bị cáo khai mình dùng tay đấm vào mặt anh T2.
Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Bị cáo không thừa nhận dùng bát đánh bị hại. Tuy nhiên, căn cứ:
- - Đơn trình báo và lời khai của anh Hoàng Văn T2 (Bút lục 185-186; 187-198); Lời khai chị Nguyễn Thị Thu H1 (bút lục 208-217); L khai người làm chứng là ông Nguyễn Văn S1 (bút lục 254-257): Đều khẳng định bị cáo dùng bát sứ ăn cơm để đánh vào mặt gây thương tích cho anh T2.
- - Kết quả thực nghiệm điều tra (Bút lục 111-131): Ngày 10/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V, tỉnh Bắc Giang cho Nguyễn Văn H, anh Hoàng Văn T2 tự thực nghiệm lại sự việc anh T2 bị H gây thương tích theo lời khai của các bên.
Tại văn bản số 80/ BVĐK-TTPY ngày 01/11/2023, Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B giải thích kết luận giám định số 1384/23/KLTTCT-TTPY ngày 04/5/2023 của anh Hoàng Văn T2: Nguyễn Văn H dùng tay đấm (có móng tay) hay dùng bát đập đều gây được vết sẹo sống mũi cho anh Hoàng Văn T2 (Bút lục 79).
Tuy nhiên, từ kết quả thực nghiệm điều tra (được chụp ảnh cụ thể) theo lời khai của H trong trường hợp H dùng tay đấm vào mặt anh T2 (ảnh số 13, 14 trong bản ảnh thực nghiệm) thì không gây được vết sẹo tại vị trí gốc mũi bên trái (như bản ảnh giám định) cho anh T2. Do vậy, có đủ cơ sở để khẳng định H dùng bát ăn cơm bằng sứ gây thương tích cho anh T2.
[2.2] Bị cáo không thừa nhận mình có hành vi côn đồ. Luật sư cho rằng bị cáo không có hành vi côn đồ. Hội đồng xét xử xét thấy: Tuy bị cáo và người bị hại có mâu thuẫn từ trước ngày 09/4/2023, nhưng trong ngày 09/4/2023, chỉ vì bị hại có lời nói "mày -tao" với bị cáo và làm đổ rượu vào áo của bị cáo mà bị cáo đã đánh bị hại gây thương tích trong đám cỗ có đông người đang tham gia ăn uống. Theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao tại Công văn số 38/NCPL ngày 06/01/1976 thì hành vi "côn đồ" được thể hiện chỉ vì duyên cớ nhỏ nhặt trong sinh hoạt mà đâm chém đánh người.
Do đó, Hội đồng xét xử xác định bị cáo đánh anh T2 gây thương tích là có tính chất côn đồ đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.
[2.3] Luật sư cho rằng 02 chiếc bát ăn cơm thu của anh Q không phải là vật chứng của vụ án nhưng Cơ quan điều tra thu giữ và xác định đó là vật chứng của vụ án là không đúng, là vi phạm tố tụng vì trong số bát mà anh S đã thuê của nhà anh Q có rất nhiều, không thể xác định chính xác 02 chiếc bát mà Cơ quan điều tra thu của anh Q chính là chiếc bát bị cáo dùng đánh bị hại.
Hội đồng xét xử thấy: Sau khi xảy ra sự việc, gia đình anh S đã trả lại bát đĩa cho anh Q, anh Q đã rửa sạch số bát đĩa đó và không xác định được đâu là chiếc bát bị cáo sử dụng để đánh anh T2. Tuy nhiên, trong quá trình xác minh, điều tra giải quyết vụ án Cơ quan điều tra tiến hành thu thập các tài liệu chứng cứ xác định được anh T2 bị bị cáo H dùng bát ăn cơm để đánh gây thương tích nên đã yêu cầu anh Q giao nộp 02 chiếc bát ăn cơm (là loại bát mà mà anh Q đã cho gia đình anh S thuê)- đây là vật tương tự với vật đã gây thương tích cho bị hại. Cơ quan điều tra sử dụng để phục vụ công tác điều tra vụ án và trưng cầu giám định. 02 chiếc bát này có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 89 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Việc Cơ quan điều tra yêu cầu anh Q giao nộp 02 chiếc bát ăn cơm là đúng quy định, không vi phạm tố tụng như quan điểm của Luật sư đưa ra.
[2.4] Luật sư cho rằng các kết quả giám định về thương tích của anh T2 là không khách quan, không đúng quy định của Bộ Y, không rõ ràng, lộn xộn. Đề nghị Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung để trưng cầu giám định tại V1.
HĐXX nhận thấy: Tại Kết luận giám định của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B đã xác định về thương tích của anh T2 là 12%. Vật gây thương tích: Chiếc bát ăn cơm bằng sứ, bằng nhựa và dùng tay đấm đều có thể gây nên thương tích cho anh T2 như hồ sơ bệnh án. Không đồng ý với kết quả này nên bị cáo H đề nghị giám định lại. Kết quả giám định lại lần thứ nhất vẫn kết luận về thương tích của anh T2 là 12%, về vật gây thương tích: Chiếc bát sứ gửi giám định gây được thương tích cho anh T2; chiếc bát bằng nhựa và dùng tay đấm không gây được thương tích cho anh T2.
Do kết quả giám định giữa hai lần khác nhau về cùng một nội dung (vật gây thương tích) nên theo quy định tại khoản 3 Điều 211 Bộ luật Tố tụng hình sự thì cần phải trưng cầu giám định lại lần thứ hai nên Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thị xã V tiếp tục trưng cầu giám định lại và kết quả giám định lại về vật gây thương tích xác định "Chiếc bát nhựa màu xanh gửi đến giám định khi tác động trực tiếp vào vùng mũi có khả năng gây ra thương tích cho anh Hoàng Văn T2 theo hồ sơ bệnh án. Dùng tay đấm vào vùng mũi có thể gây ra thương tích cho anh Hoàng Văn T2 theo hồ sơ bệnh án".
Việc trưng cầu giám định để xác định tỷ lệ thương tích và vật gây thương tích được Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thị xã V thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các kết quả giám định nêu trên của cơ quan giám định là cơ quan chuyên môn, họ phải thực hiện theo đúng quy trình và chịu trách nhiệm với kết quả giám định đó để phục vụ công tác điều tra. Các nội dung trong các kết luận giám định dù có sự khác nhau, không đồng nhất nhưng việc sử dụng
nội dung nào để đánh giá tính chất vụ án và có ý nghĩa chứng minh vụ án là thuộc thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng. Tuy kết quả giám định cuối cùng cho rằng các trường hợp dùng bát sứ, bát nhựa và tay đấm đều gây nên được thương tích cho anh T2 nhưng căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, lời khai đã thu thập được, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo H đã dùng bát ăn cơm bằng sứ - là hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho anh T2.
Hơn nữa, V đã có văn bản số 338/PYQG-GĐ ngày 22/5/2024 giải thích rõ căn cứ giám định thương tích cho anh Hoàng Văn T2 như sau: Việc đánh giá nhận định độc lập của các giám định viên và các kíp giám định dựa trên cơ sở câu hỏi của cơ quan trưng cầu, nghiên cứu thương tích của Hoàng Văn T2 trực tiếp giám định nhận định đánh giá khả năng gây thương tích trên cơ sở giả định. Các tình huống theo quyết định trưng cầu trả lời về khả năng gây tổn thương nên kết quả các kết luận có thể sẽ khác nhau.
Do vậy, không có căn cứ để trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung liên quan đến nội dung này.
[2.4] Luật sư cho rằng không có việc anh Hoàng Văn T2 điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B từ ngày 09/4/2023 đến ngày 20/4/2023 như hồ sơ bệnh án thể hiện bởi vì ngày 10/4/2023 và ngày 19/4/2023, anh T2 vẫn có mặt tại Cơ quan công an thị trấn B và Cơ quan Công an huyện V.
Như anh T2 đã trình bày, bản thân anh T2 điều trị nội trú trong bệnh viện nhưng anh T2 chỉ bị đau mũi, không ảnh hưởng đến việc di chuyển, đi lại. Ngày 10/4/2023 và ngày 19/4/2023, sau khi khám và tiêm uống thuốc hàng ngày xong anh T2 xin phép bệnh viện về khoảng thời gian ngắn để phục vụ việc trình báo sự việc cũng như trình bày lời khai phục vụ công tác giải quyết vụ án tại Công an thị trấn B (nay là phường B) và Công an huyện V (nay là thị xã V). Xét thấy đây là vấn đề liên quan đến quản lý bệnh nhân của bệnh viện. Việc điều trị của anh T2 được thể hiện bằng hồ sơ bệnh án nên quan điểm của Luật sư cho rằng anh T2 không điều trị tại Bệnh viện là không có căn cứ chấp nhận.
[2.6] Luật sư cho rằng cần tiến hành làm việc với bệnh viện để làm rõ quy trình khám chữa và điều trị bệnh cho bệnh nhân là anh T2.
Hội đồng xét xử thấy: Quá trình điều trị bệnh cho bệnh nhân là anh Hoàng Văn T2 đã được thể hiện đầy đủ trong hồ sơ bệnh án được thu thập trong hồ sơ vụ án. Bệnh viện điều trị cho bệnh nhân như thế nào là do chức năng, nhiệm vụ của từng khoa, từng lĩnh vực và theo phác đồ riêng cho từng bệnh nhân và phải chịu trách nhiệm với kết quả điều trị cho bệnh nhân. Do vậy, không cần thiết phải tiến hành làm việc với bệnh viện như nội dung Luật sư đã đưa ra.
[2.7] Luật sư cho rằng, Kiểm sát viên tiến hành ghi lời khai anh Thân Đức S2 là sai, đáng lẽ khi biết có thêm người làm chứng thì phải trả hồ sơ yêu cầu Cơ quan điều tra lấy lời khai.
Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định tại khoản 4 Điều 185 và khoản 5 Điều 186 Bộ luật Tố tụng hình sự thì khi thấy cần thiết, Kiểm sát viên có thể triệu
tập người làm chứng để lấy lời khai. Trong vụ án này, sau khi làm việc với người bị hại là anh T2, anh T2 cho biết còn có anh Thân Đức S2 là người biết sự việc bị cáo H đánh anh T2 vào ngày 09/4/2023 nên Kiểm sát viên đã tiến hành triệu tập anh S2 lên để lấy lời khai và không cần phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra.
[2.8] Luật sư cho rằng ngày 24/11/2023, Kiểm sát viên tiến hành lấy lời khai anh Thân Đức S2 và tiến hành cho bị cáo H đối chất với anh S2. Tuy nhiên biên bản đối chất không rõ ràng, cùng ngày Kiểm sát viên vẫn tiến hành tống đạt Cáo trạng cho bị cáo H là không đảm bảo.
Hội đồng xét xử thấy: Vào hồi 08 giờ 30 phút đến 09 giờ 20 phút ngày 24/11/2023 Kiểm sát viên tiến hành lấy lời khai người làm chứng là anh S2, hồi 09 giờ 26 phút đến 10 giờ ngày 24/11/2023 Kiểm sát viên tiến hành cho anh S2 và bị cáo H đối chất các nội dung mâu thuẫn. Tuy nhiên anh S2 giữ nguyên lời khai và từ chối đối chất với bị cáo H. Kiểm sát viên đã tiến hành lập biên bản và ghi rõ quan điểm của các bên tham gia đối chất theo đúng quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng hình sự. Cùng ngày 24/11/2023 Việc kiểm sát nhân dân huyện V (nay là thị xã V) đã ban hành Cáo trạng truy tố bị cáo H và vào hồi 10 giờ 30 phút Kiểm sát viên lập biên bản tống đạt Cáo trạng cho bị cáo là đúng quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử căn cứ lời khai của bị hại anh T2, của người làm chứng là chị H1 và anh S2, người liên quan, kết luận giám định thấy đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 09/4/2023, tại gia đình anh Tống Văn S, sinh năm 1990, ở tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang, trong lúc dự tiệc anh Hoàng Văn T2, sinh năm 1976, trú tại tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang ngồi cùng bàn tiệc với Nguyễn Văn H làm rơi chén rượu xuống mặt bàn khiến rượu bắn vào người Nguyễn Văn H. Thấy vậy, Hiệp mắng, chửi lại anh T2, thì anh T2 mắng lại và xưng hô “mày- tao” với H. Lúc này, H dùng tay phải cầm 01 chiếc bát bằng sứ, màu trắng, dạng bát con ăn cơm có hình bán cầu, đường kính miệng bát rộng 11cm, đường kính đáy bát rộng 4,5cm ở mặt bàn tiệc đập 01 nhát vào vùng mũi anh T2. Hậu quả, anh T2 bị thương tích: Gãy xương chính mũi, gãy vách ngăn mũi xương, sây sát sưng nề mũi với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 12%.
Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự). Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo theo điểm, khoản, điều luật như trên là có căn cứ và đúng với quy định của pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của con người. Quyền này được hiến pháp và pháp luật bảo vệ, đòi hỏi các cá nhân và các chủ thể khác trong xã hội phải tôn trọng.
[3] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện bằng việc bị cáo chưa bị kết án lần nào.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú; bị cáo có ý thức bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho người bị hại, bị cáo thừa nhận hành vi đánh gây thương tích cho người bị hại, có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì và mẹ đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất, được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Tuy nhiên, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, có tính chấp côn đồ nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống một thời gian tương đương với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[7] Về vật chứng: Đối với 01 chiếc bát con bằng sứ H dùng đánh anh T2, do sau khi sự việc xảy ra, gia đình anh S đã thu dọn để lẫn vào các chiếc bát khác, sau đó trả lại cho anh Q nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Hai chiếc bát con thu giữ của anh Q để phục vụ cho việc giám định có giá trị không đáng kể nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[8] Trách nhiệm dân sự và số tiền bị cáo nộp: Bị cáo đã bồi thường cho người bị hại, người bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Bị cáo được nhận lại số tiền 10.000.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Việt Yên tại phiếu thu số 0000237 ngày 24/11/2023 nhưng cần tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.
[9] Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn từ tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
- Về vật chứng và số tiền bị cáo nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Việt Yên: Căn cứ điểm c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 02 chiếc bát con dạng bát ăn cơm có hình bán cầu, trong đó 01 chiếc bằng sứ, màu trắng, đường kính miệng bát rộng 11cm, đường kính đáy bát rộng 4,5cm, dưới đáy bát có chữ “Thái Bình” và 01 chiếc bằng nhựa, màu xanh, đường kính miệng bát rộng 11cm và đường kính đáy bát rộng 5,5cm, dưới đáy bát có chữ “Song long Plastic”. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H số tiền 10.000.000đ bị cáo đã nộp tại Biên lai số 0000237 ngày 24/11/2023 của Chi cục
thi hành án dân sự huyện Việt Yên (nay là thị xã V) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326 của UBTVQH. Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo và bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày xét xử. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ (Ký tên, ghi rõ họ tên) |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Bắc Giang.
- - VKSND tỉnh Bắc Giang;
- - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
- - VKSND thị xã Việt Yên.
- - Công an thị xã Việt Yên.
- - Chi cục THADS thị xã Việt Yên.
- - UBND nơi bị cáo cư trú;
- - Người tham gia tố tụng.
- - Lưu HS, VP.
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Trường |
Bản án số 122/2024/HSST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 122/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
