Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẠC LIÊU

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 122/2024/DS – ST

Ngày 19/9/2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Chi

Hội thẩm nhân dân: Bà Lâm Thị Nguyệt Hồ và bà Khưu Liên Dung.

- Thư ký phiên toà: Ông Trương Minh Hùng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Mỹ Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 582/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2024/QĐXXST-DS, ngày 21 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 116/2024/QÐST-DS ngày 19 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần N

Địa chỉ trụ sở chính: số A, đường T, phường L, quận H, Thành Phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: ông Phạm Quang D – Chức vụ: Chủ tịch HĐQT. Người đại diện theo ủy quyền: ông Đậu Tuấn C - Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần N, chi nhánh B.

Ông Đậu Tuấn C ủy quyền cho: Ông Mã Kim K - chức vụ: Phó trưởng phòng, Ngân hàng TMCP N, chi nhánh B.

(Văn bản ủy quyền ngày 18/9/2023)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng H, sinh năm 1961 và bà Trần Thị H1, sinh năm 1959. Cùng địa chỉ: Số F, Lê Thiết H2, Khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Thanh L, sinh năm 1989 và chị Trần Thị Hồng G, sinh năm 1992; cùng địa chỉ: Số F, Lê Thiết H2, Khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

(Các đương sự vắng mặt)

NHẬN THẤY:

1

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng TMCP N, đại diện theo ủy quyền ông Mã Kim K trình bày:

Ngày 11/7/2020 Ngân hàng TMCP N, chi nhánh B (sau đây viết tắt là Ngân hàng) cho ông Nguyễn Hồng H vay theo Đề nghị phát nhành thẻ tín dụng quốc tế V kiêm hợp đồng, với hạn mức thẻ 100.000.000 đồng và đã giải ngân qua số tài khoản thẻ cho ông H với mã số tài khoản J0890001106; Ngày 03/6/2021 Ngân hàng cho ông Nguyễn Hồng H vay theo Đề nghị phát nhành thẻ tín dụng quốc tế V kiêm hợp đồng, với hạn mức thẻ 200.000.000 đồng và đã giải ngân qua số tài khoản thẻ cho ông H với mã số tài khoản VS0890001142; cả hai thẻ đã phát sinh giao dịch sử dụng trong hạn mức.

Ngày 27/12/2021 Ngân hàng cho ông Nguyễn Hồng H, bà Trần Thị H1 vay 1.500.000.000đồng, mục đích vay bổ sung vốn lưu động nuôi tôm; hai bên ký Hợp đồng cho vay theo hạn mức 1422.TN/HDHM.BL.21, thỏa thuận thời hạn vay 12 tháng, lãi suất được xác định tại thời điểm giải ngân vốn cho vay theo thông báo lãi suất cho vay của Ngân hàng trong từng thời kỳ và được ghi trên từng Giấy nhận nợ; lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. Ngân hàng đã giải ngân cho ông H, bà H1 ngày 14/9/2022. Ghi nhận tại Giấy nhận nợ ngày 14/9/2022, lãi suất vay 7,5%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn; không áp dụng lãi chậm trả. Để đảm bảo khoản vay các bên đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 172/VCB.BIL.21 ngày 31/5/2021 chấp quyền sử dụng đất diện tích 77,7m2, tại thửa đất 91, tờ bản đồ 59, tại khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu và tài sản là căn nhà trên đất.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Hồng H, bà Trần Thị H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên các khoản vay đã chuyển sang quá hạn. Nay Ngân hàng yêu cầu ông H, bà H1 thanh toán cho Ngân hàng TMCP N số tiền nợ tính đến ngày 19/9/2024 là 2.009.942.726 đồng. Trong đó, tiền gốc của khoản vay hợp đồng tín dụng là 1.499.999.969 đồng; lãi trong hạn là 175.993.147 đồng, lãi quá hạn là 85.684.930 đồng); tiền nợ gốc thẻ tín dụng tài khoản số J0890001106 là 43.813.725 đồng, lãi trong hạn 11.825.199 đồng, lãi quá hạn 13.008.456 đồng. Tiền nợ gốc thẻ tín dụng tài khoản số VS0890001142 là 133.970.897 đồng, lãi trong hạn 31.466.455 đồng, lãi quá hạn 14.179.948 đồng.

Kể từ ngày 20/9/2024 trở đi, ông Nguyễn Hồng H, bà Trần Thị H1 còn phải tiếp tục chịu lãi, lãi quá hạn phát sinh theo các hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng. Trường hợp ông H, bà H1 không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp tại các hợp đồng thế chấp để thu hồi toàn bộ nợ vay cho Ngân hàng.

Bị đơn ông Nguyễn Hồng H trình bày: Ông H thừa nhận ông và bà H1 có vay tiền tại Ngân hàng TMCP N tại Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 1422.TN/HDHM.BL.21 ngày 27/12/2021 vay tổng số tiền 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng), mục đích vay là bổ sung vốn lưu động nuôi tôm; lãi suất như hợp đồng ghi nhận; ông H đã được giải ngân xong. Ông H có ký hợp đồng thẻ tín dụng có mã tài khoản số J0890001106 hạn mức 100.000.000 đồng và thẻ tín dụng có mã tài khoản số VS0890001142 hạn mức thẻ 200.000.000 đồng. Từ khi vay đến nay ông H và bà H1 có đóng lãi cho ngân hàng đến đầu năm 2023 thì ngừng do nuôi tôm bị thua lỗ. Để đảm bảo khoản vay, ông H và bà H1 đã ký hợp đồng thế chấp tài sản gồm Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 172/VCB.BIL.21 ngày 31/5/2021 chấp quyền sử dụng đất diện tích 77,7m2, tại thửa đất 91, tờ bản đồ 59, tại khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu và tài sản là căn nhà trên đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 595520 ngày 21/12/2018 cho ông Nguyễn Hồng H, bà Trần Thị H1. Ông H thừa nhận còn nợ Ngân hàng tiền vay như ngân hàng xác định, ông đồng ý trả nợ cho Ngân hàng nhưng không đồng ý phát mãi tài sản thế chấp do đây là tài sản gia đình ông H đang ở. Ông H yêu cầu ngân hàng xem xét lại, có chính sách hỗ trợ cho gia đình ông theo thông tư 02/2023/TT-NHNN do Ngân hàng N1 ban hành, yêu cầu được xem xét lại, hỗ trợ giảm lãi hay gia hạn thời gian trả nợ cho gia đình ông; ông H sẽ trả nợ để không phải phát mãi căn nhà.

Bị đơn bà Trần Thị Hiền T khi thụ lý vụ án đã được Tòa án tổng đạt Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như các văn bản tố tụng trong vụ án nhưng đã không đến Tòa án theo triệu tập, không ghi nhận được ý kiến của bà H1 đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thanh L và chị Trần Thị Hồng G từ khi đưa tham gia tố tụng đã được Tòa án tổng đạt Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như các văn bản tố tụng trong vụ án nhưng đã không đến Tòa án theo triệu tập, không ghi nhận được ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Tại bản tự khai đề ngày 19/9/2024, đại diện Ngân hàng TMCP N vẫn giữ nguyên yêu cầu, ý kiến của mình, yêu cầu ông H bà H1 thanh toán khoản nợ nêu trên, xác định không đồng ý việc miễn giảm lãi hay gia hạn nợ do trường hợp ông H không đủ điều kiện áp dụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm cho rằng:

  • Về tố tụng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình và xin vắng theo quy định; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai, nhưng vắng mặt không có lý do, nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
  • Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N. Buộc ông Nguyễn Hồng H, bà Trần Thị H1 trả cho Ngân hàng TMCP N tổng số tiền tính đến ngày 19/9/2024 là 2.009.942.726 đồng (gồm tiền gốc của các hợp đồng tín dụng là 1.677.784.591 đồng; lãi trong hạn là 219.284.801 đồng và lãi quá hạn là 112.873.334 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 20/9/2024 theo mức lãi suất của hợp đồng tín dụng và hợp đồng thẻ đã ký cho đến khi trả hết nợ.

Trường hợp ông Nguyễn Hồng H, bà Trần Thị H1 không trả được nợ thì Ngân hàng TMCP N được quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền bán đấu giá các tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Về án phí dân sự có giá ngạch và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: ông Nguyễn Hồng H, bà Trần Thị H1 phải nộp theo quy định pháp luật.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu về việc tuân theo pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa bị đơn với Ngân hàng TMCP N, chi nhánh B nên đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét xử vắng mặt đương sự: Đại diện nguyên đơn là ông Mã Kim K có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Hồng H và bà Trần Thị H1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Thanh L và chị Trần Thị Hồng G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai nên căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N.

[3.1] Xét hợp đồng tín dụng đã ký kết: Ông Nguyễn Hồng H thừa nhận vay theo Đề nghị phát nhành thẻ tín dụng quốc tế V kiêm hợp đồng ngày 11/7/2020, hạn mức thẻ 100.000.000 đồng, đã được giải ngân qua số tài khoản thẻ J0890001106 và Đề nghị phát nhành thẻ tín dụng quốc tế V kiêm hợp đồng ngày 03/6/2021, Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 1422/VCB.BLIP3.21 ngày 27/01/2021, vay 1.500.000.000đồng (Hai tỷ năm trăm triệu đồng), mục đích bổ sung vốn lưu động nuôi tôm; thỏa thuận thời hạn vay 12 tháng, lãi suất được xác định tại thời điểm giải ngân vốn cho vay theo thông báo lãi suất cho vay của Ngân hàng trong từng thời kỳ và được ghi trên từng Giấy nhận nợ; lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. Giấy nhận nợ ngày 14/9/2022, ghi nhận Ngân hàng giải ngân cho bị đơn đủ tiền vốn vay, thống nhất lãi suất vay 7,5%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn; không áp dụng lãi chậm trả, ngày đến hạn là 14/03/2023. Bị đơn thừa nhận còn nợ tiền vay như ngân hàng xác định. Do đó, về các hợp đồng tín dụng đã ký kết, căn cứ Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự đây là tình tiết không phải chứng minh.

[3.2] Xét Đề nghị phát nhành thẻ tín dụng quốc tế V kiêm hợp đồng ngày 11/7/2020 và ngày 03/6/2021 được ký kết giữa ông Nguyễn Hồng H với ngân hàng nhưng tại mục 5. Thông tin tham chiếu ghi nhận bà Trần Thị H1 là vợ. Mặt khác, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự và bà Trần Thị H1 đã ký nhận. Bà H1 biết sự việc ông H ký vay ngân hàng tại các hợp đồng thẻ này và không có ý kiến. Hiện tại ông Nguyễn Hồng H và bà Trần Thị H1 vẫn là vợ chồng hợp pháp nên bà H1 cùng có trách nhiệm trả nợ Ngân hàng cùng ông H.

[3.3] Hội đồng xét xử xét thấy, hợp đồng tín dụng nêu trên được ký kết vào năm 2021, có hình thức, nội dung thỏa thuận phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 107 Luật các tổ chức tín dụng. Các bên thoả thuận lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn được nêu trong hợp đồng phù hợp với quy định tại 100 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao nên Hợp đồng tín dụng có hiệu lực pháp luật, các bên có nghĩa vụ thực hiện.

Ông Nguyễn Hồng H yêu cầu được miễn giảm lãi theo thông tư 02/2023/TT-NHNN ngày 23/4/2023 của Ngân hàng N1 nhưng đại diện ngân hàng xác định ông H không đủ điều kiện áp dụng. Xét thấy tại Điều 4 Thông tư quy định: “Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng N2 được xem xét quyết định cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với số dư nợ gốc và/hoặc lãi của khoản nợ (bao gồm cả các khoản nợ thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn (đã được sửa đổi, bổ sung)) trên cơ sở đề nghị của khách hàng,” và tại điểm đ “ Số dư nợ của khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ còn trong hạn hoặc quá hạn đến 10 (mười) ngày kể từ ngày đến hạn thanh toán, thời hạn trả nợ theo hợp đồng, thỏa thuận.”. Nhưng tính đến ngày khởi kiện, cũng như đến phiên tòa, món nợ của ông H, bà H1 đã quá hạn và không đủ điều kiện áp dụng việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, vì vậy ý kiến này của ông H không có cơ sở chấp nhận. Do đó, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ vay nên Ngân hàng Thương mại cổ phần N yêu cầu ông Nguyễn Hồng H, bà Trần Thị H1 trả nợ vay theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết với tổng số nợ tính đến ngày 19/9/2024 là 2.009.942.726 đồng. Trong đó, tiền gốc của khoản vay hợp đồng tín dụng là 1.499.999.969 đồng; lãi trong hạn là 175.993.147 đồng, lãi quá hạn là 85.684.930 đồng); tiền nợ gốc thẻ tín dụng tài khoản số J0890001106 là 43.813.725 đồng, lãi trong hạn 11.825.199 đồng, lãi quá hạn 13.008.456 đồng. Tiền nợ gốc thẻ tín dụng tài khoản số VS0890001142 là 133.970.897 đồng, lãi trong hạn 31.466.455 đồng, lãi quá hạn 14.179.948 đồng là có căn cứ chấp nhận.

[3.4] Xét yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp của Ngân hàng: Để đảm bảo khoản vay, các bên đã ký kết các hợp đồng thế chấp tài sản gồm: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 172/VCB.BIL.21 ngày 31/5/2021 thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 77,7m², loại đất ở tại đô thị, tại thửa đất số 91, tờ bản đồ 59 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 595520 ngày 21/12/2018 cho ông Nguyễn Hồng H, bà Trần Thị H1; đất tọa lạc tại Khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Xét thấy hợp đồng thế chấp nêu trên đã được công chứng đúng theo quy định tại điểm a, d khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013 tại thời điểm thế chấp và đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B đăng ký thế chấp đúng theo quy định. Nên hợp đồng thế chấp đã ký giữa ông Nguyễn Hồng H, bà Trần Thị H1 với Ngân hàng TMCP N có hiệu lực pháp luật và các bên có nghĩa vụ thực hiện. Nay ông Nguyễn Hồng H, bà Trần Thị H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên Ngân hàng TMCP N có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi các tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ nợ vay là hoàn toàn phù hợp, đúng quy định pháp luật nên được chấp nhận.

[4] Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/5/2024 thể hiện tài snar thế chấp là phần đất diện tích 77,7m², thửa đất số 91, tờ bản đồ 59, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP595520 ngày 21/12/2018, loại đất ở đô thị. Trên đất có một căn nhà ở riêng lẻ, nhà cấp III, diện tích xây dựng 62m², diện tích sàn 125,6m², kết cấu: Khung cột bê tông cốt thép; tường xây gạch bao quanh (có sơn tường), nền lót gạch men, đổ sản bê tông cốt thép tầng lầu 1 và ban công; mái lợp tole (có đóng la phôn trần thạch cao), có sơn mặt tiền trước, cầu thang gỗ + găn kiếng, khung cửa nhôm. Mức độ tiện nghi đầy đủ. Số tầng 02 (một trệt, một lầu). Hiện phần đất, căn nhà và tài sản khác do ông H, bà H1, cùng anh L, chị G đang quản lý, sử dụng. Do chấp nhận yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp nên những người đang quản lý tài sản có nghĩa vụ giao lại cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền để thi hành cho nguyên đơn.

[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tài sản thế chấp: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên ông Nguyễn Hồng H, bà Trần Thị H1 phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tài sản thế chấp.

Ngân hàng TMCP N đã tạm ứng chi xem xét thẩm định tại chỗ xong 450.000 đồng. Ông Nguyễn Hồng H, bà Trần Thị H1 phải có trách nhiệm nộp 450.000 đồng để hoàn trả cho Ngân hàng.

[5] Án phí dân sự sơ thẩm: Ngân hàng TMCP N được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Ông Nguyễn Hồng H, bà Trần Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 72.198.855 đồng theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

[6] Đối với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 5; khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 184, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;

- Điều 292, 295, 298, 299, 317; khoản 1 Điều 318, các Điều 319, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự.

- Điều 100, 103, điểm a khoản 3 Điều 107 Luật các Tổ chức tín dụng.

- Điểm b khoản 1 Điều 24 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N đối với ông Nguyễn Hồng H, bà Trần Thị H1 .
  2. Buộc ông Nguyễn Hồng H, bà Trần Thị H1 cùng có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP N số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 19/9/2024) là 2.009.942.726 đồng (Hai tỷ, không trăm lẻ chín triệu, chín trăm bốn mươi hai nghìn, bảy trăm hai mươi sáu đồng). Bao gồm: Vốn gốc là 1.677.784.591 đồng; lãi trong hạn là 219.284.801 đồng và lãi quá hạn là 112.873.334 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 20/9/2024), ông Nguyễn Hồng H, bà Trần Thị H1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ với Ngân hàng TMCP N.

  1. Trường hợp ông Nguyễn Hồng H, bà Trần Thị H1 không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP N có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ nợ vay theo quy định của pháp luật là quyền sử dụng đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP595520 ngày 21/12/2018, cấp cho ông Nguyễn Hồng H và bà Trần Thị H1, diện tích 77,7m², tại thửa đất số 91, tờ bản đồ 59, loại đất ở đô thị, tại Khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

Buộc những người đang quản lý tài sản thế chấp nêu trên là ông Nguyễn Hồng H, bà Trần Thị H1, anh Nguyễn Thanh L, chị Trần Thị Hồng G có nghĩa vụ giao lại tài sản cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền để thi hành cho nguyên đơn khi có yêu cầu.

  1. Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ là 450.000 đồng. Ông Nguyễn Hồng H, bà Trần Thị H1 phải chịu toàn bộ. Ngân hàng Thương mại Cổ phần N đã dự nộp và chi số tiền 450.000 đồng nên ông Nguyễn Hồng H, bà Trần Thị H1 phải hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
  2. Về án phí: Ông Nguyễn Hồng H, bà Trần Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 72.198.855 đồng (Bảy mươi hai triệu một trăm chín mươi tám ngàn tám trăm năm mươi lăm đồng) và nộp tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

Ngân hàng thương mại cổ phần N không phải chịu án phí, Ngân hàng đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 33.880.000 đồng (Ba mươi ba triệu, tám trăm tám mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002715 ngày 12/12/2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, nay được hoàn lại toàn bộ số tiền đã nộp.

  1. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án sơ thẩm xử công khai, các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND TP Bạc Liêu;
  • - CC THA.DS TP Bạc Liêu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2024/DS – ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 122/2024/DS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger