|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 122/2024/HS-ST Ngày 19-9-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Ngà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Trúc Hoa
Ông Phạm Anh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kiều Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 117/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Hoàng Ngọc D, sinh ngày 19 tháng 11 năm 2000 tại Yên Bái, nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố C, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nơi ở hiện tại: Thôn E, xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: Tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Hoàng Kim S và bà Nguyễn Thị H; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 9/5/2024; đến ngày 17/5/2024 áp dụng biện pháp tạm giam; có mặt.
Bị hại:
- Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1989, nơi ĐKHKTT: Thôn K, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện tại: Khu C, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Anh Lê Anh T1, sinh năm 1984, nơi ĐKHKTT: Tổ T, L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; chỗ ở: Khu C, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 07/5/2024, Hoàng Ngọc D đi xe taxi đến khu chung cư T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng để gặp chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1989, nơi thường trú: thôn K, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; chỗ ở hiện nay: khu chung cư T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng để nói chuyện (vì trước đó D và chị T có mối quan hệ tình cảm nam nữ). Sau đó, chị T hẹn D đến nhà nghỉ A ở đường C, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng. Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, D đi xe taxi đến nhà nghỉ Anh Q thì nhìn thấy chị T đi xe mô tô BKS 20B1-066.04 phía sau chở anh Lê Anh T1, sinh năm 1984, nơi thường trú: tổ T, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; chỗ ở hiện nay: khu chung cư T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng đi vào ngõ cạnh nhà nghỉ. Thấy vậy D quay ra ngoài để gặp chị T, khi thấy D chị T định quay xe rời đi. Doanh tiến đến chặn đầu xe mô tô và rút chìa khóa xe của chị T. Lúc này, anh T1 xuống xe nói chuyện với D, tiếp đó cả hai xảy ra cãi vã, xô đẩy. Nhìn thấy anh T1 đang cầm chiếc túi xách màu đen, nghĩ là túi của chị T nên D dùng tay phải giật lấy chiếc túi xách bằng da màu đen, kích thước 20x20cm từ tay anh T1, anh T1 giằng lại chiếc túi nhưng không được. Sau đó, D nhìn thấy trên tay anh T1 có chiếc điện thoại, nghĩ là điện thoại của chị T, D muốn xem điện thoại có nội dung gì liên quan đến quan hệ tình cảm giữa anh T1, chị T nên D giằng điện thoại trên tay anh T1 nhưng không được. Sau đó, anh T1 chạy vào trong ngõ, D cầm theo túi xách của chị T lên xe taxi đi về. Trên đường đi, D kiểm tra trong túi xách có 03 điện thoại di động gồm có: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 màu xanh dương, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen (là tài sản của chị T) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15S màu đen (là tài sản của anh T1). Doanh biết chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 là của chị T, do trước đó đã có quan hệ tình cảm với chị T nên D cũng biết mật khẩu tài khoản Ngân hàng của chị T. Doanh tiếp tục đăng nhập vào ứng dụng Intenet Banking lưu sẵn thông tin số tài khoản Ngân hàng Q1 trong chiếc điện thoại di động S1, D phát hiện trong tài khoản có số tiền 5.763.000 (năm triệu bẩy trăm sáu mươi ba nghìn) đồng. D đã thực hiện chuyển số tiền 5.060.000 (năm triệu không trăm sáu mươi nghìn) đồng đến số tài khoản 1020847954 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần N của mình và chuyển trả tiền taxi số tiền 700.000 (bảy trăm nghìn) đồng. Sau đó, D đã chuyển tiền từ tài khoản của D trả tiền nợ taxi trước đó, tiền xe ôm và đổi sang tiền mặt là 1.540.000 đồng, chuyển số tiền 2.100.000 (hai triệu một trăm nghìn) đồng đến số tài khoản 030077175373 tại Ngân hàng thương mại cổ phần S2 của chị gái D là Hoàng Thị H1, sinh năm 1997, nơi thường trú: thôn B, xã M, thành phố Y, tỉnh Yên Bái đóng tiền chi tiêu hàng tháng. Khi về nhà, D đã để chiếc túi xách lên nóc nhà vệ sinh phía sau nhà và 03 chiếc điện thoại ở khe giáp ranh giữa nhà D và nhà hàng xóm để chị H1 không biết. Sáng ngày 08/5/2024, chị T và anh T1 ra cây ATM rút tiền trong tài khoản của chị T thì phát hiện bị mất số tiền 5.760.000 đồng nên đã trình báo Công an về sự việc trên.
Ngày 09/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoàng Ngọc D. Cơ quan điều tra đã thu giữ tại nơi ở của D1 01 túi xách màu đen và 03 điện thoại di động; sau đó anh Lê Anh T1 đã giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO 3S màu đen; Hoàng Ngọc D giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng và nộp lại số tiền 1.320.000 đồng còn lại trong tài khoản của D.
Tại Kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTS ngày 09/5/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận K kết luận: “01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 màu xanh dương có giá 950.000 đồng; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A15s màu đen có giá 1.250.000 đồng, 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 4G màu đen có giá 230.000 đồng và 01 túi xách thời trang màu đen không đủ căn cứ để định giá. Tổng trị giá tài sản đến thời điểm bị xâm hại có giá là 2.430.000 đồng”.
Quá trình điều tra: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K xác định những tài sản gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 4G màu đen và 01 túi xách màu đen là tài sản hợp pháp của chị T nên đã trả lại cho chị T. Xác định các tài sản gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15S màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S màu đen là tài sản hợp pháp của anh T1 nên đã trả lại cho anh T1 là phù hợp.
Tại Cáo trạng số 120/CT-VKSKA ngày 26/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Hoàng Ngọc D về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo D khai nhận hành vi phạm tội, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, việc truy tố xét xử bị cáo là không oan.
Sau phần xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày quan điểm luận tội:
Căn cứ tính chất mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc D: 15 - 18 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà, chị T chỉ đề nghị đối với số tiền 1.320.000₫ là số tiền bị cáo D chiếm đoạt của chị T tự nguyện giao nộp cho cơ quan công an đề nghị chị T nhận lại, còn toàn bộ số tiền còn lại bị cáo D chiếm đoạt chị không yêu cầu bồi thường. Số tiền 5.300.000đ là tiền của anh T1 chuyển vào tài khoản của chị T chị sẽ có trách nhiệm trả cho anh T1, không yêu cầu bị cáo hoàn lại nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về phần bồi thường dân sự.
Về xử lý vật, tiền liên quan hành vi phạm tội: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng
- Trả lại cho bị hại là chị Nguyễn Thị T số tiền 1.320.000đ.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ân hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử khoan hồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1]. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận K, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị hại là chị Nguyễn Thị T có mặt; bị hại là anh Lê Anh T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Xét bị hại là anh Lê Anh T1 đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của bị hại không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 308 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị hại là anh Lê Anh T1.
- Về nội dung:
[3] Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, kết luận định giá, sao kê tài khoản ngân hàng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 07/5/2024, tại đường C, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng, bị cáo Hoàng Ngọc D có hành vi công khai, nhanh chóng giật chiếc túi xách của anh Lê Anh T1 và chiếm đoạt các tài sản gồm 03 điện thoại di động của chị T và anh T1, sau đó đăng nhập tài khoản ngân hàng của chị T và chiếm đoạt số tiền trong tài khoảng ngân hàng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 8.190.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội nên cần xét xử nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân không tiền án, tiền sự, tại phiên toà bị hại là chị T đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng mức hình phạt trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đủ tính chất răn đe, phòng ngừa tội phạm.
[8] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn phạt tiền đối với bị cáo.
[9] Về trách nhiệm dân sự:
Các điện thoại di động là tài sản chiếm đoạt của bị hại đã được trả lại cho các bị hại.
Đối với số tiền bị cáo D chiếm đoạt từ tài khoản của chị T là 5.760.000đ: Bao gồm số tiền 5.300.000đ là tiền của anh T1 chuyển vào tài khoản của chị T để giữ hộ, số tiền còn lại 460.000đ là của chị T. Tại phiên toà, chị T chỉ đề nghị đối với số tiền 1.320.000đ là số tiền bị cáo D chiếm đoạt của chị T đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan công an đề nghị chị T nhận lại, còn toàn bộ số tiền còn lại bị cáo D chiếm đoạt chị không yêu cầu bồi thường. Số tiền 5.300.000đ là tiền của anh T1 chuyển vào tài khoản của chị T chị sẽ có trách nhiệm tự trả cho anh T1, không yêu cầu bị cáo hoàn lại.
Do chị T tự nguyện không đề nghị bị cáo bồi thường dân sự, và tự có trách nhiệm trả anh T1 5.300.000đ là tiền anh T1 gửi chị T giữ hộ nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về phần bồi thường dân sự.
[10] Về xử lý vật chứng:
Cơ quan công an đã thu giữ của bị cáo D: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng và số tiền 1.320.000đ.
Xét: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng là tài sản của bị cáo D sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền 1.320.000₫ là số bị cáo D chiếm đoạt của chị T, bị cáo đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan công an, nên cần trả lại số tiền này cho bị hại là chị T.
[11] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc D phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng số IMEI 354867093046138, bị vỡ góc trái mặt sau.
- -Trả lại cho bị hại là chị Nguyễn Thị T số tiền 1.320.000đ.
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại là chị Nguyễn Thị T có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc D: 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 9/5/2024.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 6/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng).
(Theo Uỷ nhiệm chi ngày 4/9/2024 giữa đơn vị trả tiền là Công an quận K với đơn vị nhận tiền là Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An tại Kho bạc Nhà nước K).
Bị cáo Hoàng Ngọc D phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị hại là anh Lê Anh T1 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Ngà |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
||
|
Phạm Thị Ngọc Ngà |
6
7
Bản án số 122/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (cướp giật tài sản)
- Số bản án: 122/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp giật tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: có tội
