|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 122/2024/HS-ST
Ngày: 18 - 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Hồ Ngọc Tiếp
Thẩm phán: ông Trần Văn Lam
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hoa
Ông Mai Xuân Thường
Ông Dương Thanh Cảnh
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Mạnh Cường - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: ông Trần Nhật Ánh, Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại Phòng xử án, Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 75/2024/TLST- HS ngày 06 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày 20 tháng 8 năm 1984, tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Nguyễn Văn H (đã chết); con bà Hoàng Thị T, sinh năm 1949; vợ: Nguyễn Thị H1; con: có 3 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/02/2024, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn C: ông Trần Văn L - Văn phòng L2 - Đoàn Luật sư tỉnh N, có mặt.
- Bị hại: ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1959 (đã chết)
Nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An.
Đại diện hợp pháp của bị hại và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phan Thị T1, sinh năm 1962; nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An, vợ của bị hại, có mặt.
Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1982; nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1998; nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An, vắng mặt (có giấy ủy quyền).
Anh Nguyễn Văn Â, sinh năm 1987; nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, là con của bị hại, vắng mặt (có giấy ủy quyền).
Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1993; nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, vắng mặt (có giấy ủy quyền).
Anh Nguyễn Văn B1, sinh năm 1991; nơi cư trú: tổ dân phố Đ, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, vắng (có giấy ủy quyền).
Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1987; nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An, có mặt.
Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1933; nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An, là con bị hại, vắng mặt (có giấy ủy quyền).
Người đại diện theo ủy quyền của Chị H3, chị Y, anh Â, anh B, anh B1 và ông T2: anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1987; nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An, có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1983
Nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An, có mặt.
- Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1987
Nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An, có mặt.
* Người làm chứng:
- Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1977
Nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An, có mặt.
- Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1968
Nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 24/02/2024, tại nhà thờ họ “Nguyễn Văn ” nằm trong khuôn viên nhà Nguyễn Văn C tại thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An tổ chức lễ cúng rằm tháng giêng (vì Nguyễn Văn C là tộc trưởng). Đến khoảng 23 giờ 15 phút, sau khi ăn uống xong thì một số người ra về. Lúc này, chị Nguyễn Thị H1 và bà Phan Thị T1 dọn dẹp bát đũa đưa ra khu vực giếng nước trong khuôn viên nhà Nguyễn Văn C; các anh Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn T4 và chị Nguyễn Thị L1 ngồi uống nước, còn Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn T3 và ông Nguyễn Văn H2 ngồi trên chiếu trong sân để uống rượu và nói chuyện. Đến khoảng 00 giờ 15 phút, ngày 25/02/2024, do uống nhiều rượu nên Nguyễn Văn C đi ra khu vực giếng nước vệ sinh, khi quay vào trượt chân ngã. Tại đây, Nguyễn Văn C và chị H1 (vợ C) tranh cãi nhau. Thấy vậy, anh T3 can ngăn và nói với Nguyễn Văn C rằng “Bác vô đây ta uống rượu nói chuyện, đứng ngoài ni làm chỉ”. Chị H1 ngồi rửa bát tại giếng nước, tiếp tục cãi nhau với Nguyễn Văn C. Thấy Nguyễn Văn C bức xúc, sợ Nguyễn Văn C đánh chị H1 nên anh T3 can ngăn rồi kéo Nguyễn Văn C vào nhà nhưng Nguyễn Văn C không chịu đi mà nói với anh T3 “mi tau chém” rồi với tay lấy một chiếc dao nhọn dài khoảng 40 cm ở trong rổ đựng bát đũa, giơ lên chém anh T3, anh T3 bỏ chạy thì Nguyễn Văn C ném chiếc dao trên nhưng không trúng ai. Ông Nguyễn Văn H2 đi đến, đứng đối diện và cách Nguyễn Văn C khoảng 01 m để can ngăn. Ông H2 nói “Bây làm chi đó” thì C nói “Chú ra sân uống nước đi, chuyện anh em con thì anh em con giải quyết”. Ông H2 nói tiếp “Mi không nghe lời chú thì đừng trách chú, chú đập cho đó” và dùng tay đấm Nguyễn Văn C một phát vào vùng đầu Nguyễn Văn C rồi hai người này giằng co nhau. Lúc này, Nguyễn Văn C đang cầm chiếc dao nêu trên trong tay phải và đâm một nhát theo hướng từ sau ra trước vào vùng bụng bên trái của ông H2. Bị đâm, ông H2 ôm bụng lùi lại rồi kêu lên và ngã xuống đất. Biết mình đã đâm trúng ông H2 nên Nguyễn Văn C vứt dao, đến xem thì thấy ông H2 bị 01 vết thương ở vùng bụng bên trái, lòi ruột. Ngay sau đó, ông H2 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa tỉnh N. Sáng ngày 25/4/2024, sau khi tỉnh rượu, Nguyễn Văn C đến bệnh viện T5 thì biết ông H2 đang bị nguy kịch nên về đầu thú tại Công an xã V, huyện T và giao nộp hung khí gây án. Hậu quả: ông H2 sau khi bị C đâm đã được gia đình đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện H, nhưng do vết thương quá nặng nên Bệnh viện đã trả về. Đến 15 giờ, ngày 25/02/2024, ông Nguyễn Văn H2 tử vong ngày 25/02/2024.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn C khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Biên bản khám nghiệm tử thư lập hồi 18 giờ 30 phút, ngày 25/01/2024 xác định tử thi Nguyễn Văn H2 có các dấu vết thương tích sau đây: vùng bụng bên trái cách đường trắng giữa bungj7,0 cm các dưới ngoài rốn 12 cm có 1 vết thương kích thước(4,0 x 3,5) cm, bờ mép gọn, bầm tụ máu, hướng từ trước ra sau; ngay sát dưới vết thương có 1 vùng bầm tụ máu, hình không xác định. Kích thước (24 x 12) cm; ngay đường trắng giữa bụng trên và dưới rốn có 1 vết thương dài 19 cm được khâu bằng chỉ y tế. Sau khi cắt chỉ, vết thương có kích thước 18,5 x 0,8) cm (vết mổ của Bệnh viện); vùng bụng bên trái cách đường trắng giữa bụng 15 cm, cách dưới núm vú trái 24 cm có 1 vết thương kích thước (1,9 x 0,5) cm (vết mổ dẫn lưu của Bệnh viện); Vùng bụng bên phải có 2 vết thương (đều là vết một dẫn lưu của bệnh viện); vùng ngực bên phải cách ngang núm vú phải 9,0 cm có 1 vùng bầm tụ máu kích thướng (6,0 x 5,0) cm. Kiểm tra áo khoác của nạn nhận: phía dưới bên trái ai có 1 vết đứt thủng vải, bở mép sắc gọn, kích thướng (4,0 x 0,1) cm, vị trí vết này các gấu áo 5,0 cm cách giữa áo 14 cm. Kiểm tra quần dài của nạn nhân: tại vị trí trước bên trái cách lưng quần 3,0 cm, cách xéc khóa quần 6,0 cm có 1 vết đứt thủng vải, bờ mép sắc gọn, kích thước ( 4,0 x 0,1) cm.
Mổ tử thi xác Nguyễn Văn H2 xác định: đầu, tổ chức dưới da không bị bầm tụ máu, xương hộp sọ không bị nứt, vỡ; ngực, bụng: tương ứng với tổn thương vùng ngực phải, vết thương vùng bụng: tổ chức dưới da bị bầm tụ máu. Khoang lồng ngực hai bên chứ ít dịch mày hồng nhạt, xương sườn, xương ức không bị tổn thương; tim, phổi nhạt màu, bao tim không có máu; ổ bụng chứa khoảng 1500 ml máu đông và không đông. Tương ứng với vết thương bụng trái: Ruột non, trực tràng, mạc treo trực tràng bị thủng, mạch máu tương ứng bị đứt.
Tại bản kết luận giám định tử thi số 62/KLGĐ - KTHS ngày 19/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận: nguyên nhân chết của ông Nguyễn Văn H2 là do suy tuần hoàn cấp do vết thương thấu bụng làm đứt tĩnh mạch trực tràng, thủng rột non, trực tràng và mạc treo trực tràng.
Tại bản kết luận giám định số 07/KL- KTHS ngày 08/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: máu tử thi Nguyễn Văn H2 gửi tới giám định thuộc nhóm máu O. Trên con dao dài 40 cm, cán dao bằng gỗ dài 13 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 27 cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 4cm, mũi dao nhọn, gửi tới giám định có bám máu người, lượng dấu vết ít không xác định được nhóm máu. Trên con dao dài 30 cm, loại 1 lưỡi sắc, cán dao bằng gỗ dài 11 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 19 cm, chỗ rộng nhất của lươi dao là 6 cm, mũi dao nhọn, gửi tới giám định không tìm thấy dấu vết máu người.
Cáo trạng số 104/CT-VKSNA-P2 ngày 03/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố Nguyễn Văn C về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn C và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 16 năm tù đến 17 năm tù về tội “Giết người”.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa đại diện hợp pháp của bị hại và bị cáo C, theo đó Nguyễn Văn C bồi thường tiếp cho gia đình người bị hại 100.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy vật chứng là hung khí gây án; chiếc dao còn lại thu giữ tại hiện trường vụ án, không còn giá trị và do bị cáo C cũng như chị H1 không yêu cầu được nhận lại, nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định pháp luật.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn C: không đồng tình về việc quy kết Nguyễn Văn C phạm tội với tình tiết "có tính chất côn đồ". Nguyễn Văn C phạm tội do tinh thần bị kích động mạnh. Còn lại, nhất trí như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt Nguyễn Văn C hình phạt tù dưới mức mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa.
Bị cáo Nguyễn Văn C không bổ sung lời bào chữa và cho rằng mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng tại phiên tòa đối với bị cáo C là nặng.
Đại diện hợp pháp của bị hại và đại diện theo ủy quyền không có ý kiến tranh luận; xin Hội đồng xét xử xem xét, xử phạt bị cáo C mức án thấp để bị cáo C sớm được hoàn lương.
Đại diện Viện kiểm sát tranh luận, giữ nguyên quan điểm, đề nghị tại phiên tòa.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Văn C tha thiết được khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng
[1.1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Những người được triệu tập nhưng vắng mặt, đều đã có văn bản ủy quyền hợp lệ, không ai yêu cầu, Kiểm sát viên không đề nghị hoãn phiên tòa hoặc triệu tập thêm ai. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo luật định.
[2] Về tội danh và hình phạt
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn C khai nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố. Lời khai của Nguyễn Văn C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của Nguyễn Văn C trong quá trình điều tra; phù hợp với thời gian, địa điểm Nguyễn Văn C thực hiện tội phạm, với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản thực nghiệm điều tra, kết luận giám định, vật chứng thu giữ được; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, đủ căn cứ kết luận: vào khoảng 00 giờ 15 phút, ngày 25/02/2024, tại khu vực giếng nước trong khuôn viên nhà Nguyễn Văn C, tại thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An, sau khi cúng giỗ rằm tháng giêng tại nhà thờ Họ trong khuôn viên nhà của Nguyễn Văn C, do uống nhiều rượu nên Nguyễn Văn C cãi nhau với chị Nguyễn Thị H1 (vợ Nguyễn Văn C) thì được anh Nguyễn Văn T3 can ngăn. Do bức xúc nên Nguyễn Văn C lấy 01 chiếc dao nhọn (dài 40 cm: cán dao gỗ, dài 13 cm; lưỡi bằng kim loại, dài 27 cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 4cm, mũi dao nhọn), chém anh T3 nhưng anh T3 bỏ chạy. Thấy vậy, ông Nguyễn Văn H2 (chú họ Nguyễn Văn C can ngăn và đấm Nguyễn Văn C một phát trúng đầu Nguyễn Văn C rồi hai người này giằng co nhau, tay phải Nguyễn Văn C đang cầm chiếc dao nêu trên và Nguyễn Văn C dùng dao này đâm một phát về phía ông Nguyễn Văn H2, nơi ông Nguyễn Văn H2 đang đứng, theo hướng từ sau ra trước, trúng vào vùng bụng (bên trái) ông Nguyễn Văn H2. Ông H2 ôm bụng lùi lại, kêu la rồi ngã xuống sân. Hậu quả: ông Nguyễn Văn H2 sau khi bị Nguyễn Văn C dùng đâm trúng Đa khoa Nghệ An nhưng thương tích quá nặng (suy tuần hoàn cấp do vết thương thấu bụng làm đứt tĩnh mạch trực tràng, thủng rột non, trực tràng và mạc treo trực tràng), đã tử vong hồi 15 giờ ngày 25/02/2024.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn C là côn đồ, là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự (phạm tội có tính chất côn đồ). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Văn C về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
[3] Về tính chất của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; hình phạt
Vụ án không có đồng phạm, biệt nghiêm trọng và hậu quả do hành vi phạm tội của Nguyễn Văn C gây ra cũng đặc biệt nghiêm trọng. Khi thực hiện tội phạm, Nguyễn Văn C tuy đã sử dụng rượu nhưng nhận thức được việc dùng dao lưỡi kim loại, mũi nhọn (hung khí nguy hiểm) đâm ông Nguyễn Văn H2 là trái pháp luật, sẽ gây nguy hiểm tính mạng ông H2, nhưng vì mâu thuẫn nhỏ nhặt với vợ (chị H1) và anh T3, ông H2 mà lập tức dùng chiếc dao trên đâm vào bụng ông Nguyễn Văn H2 (là vùng trọng yếu trên thân thể con người), đã làm ông H2 tử vong. Hành vi đó của Nguyễn Văn C đặc biệt nguy hiểm, đã xâm phạm tính mạng người khác, nhất là người thân thích, không thể bù đắp, làm mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, gây hoang mang lo lắng trong nhân dân, bị công luận lên án. Vì vậy cần truy cứu trách nhiệm hình sự và xử phạt Nguyễn Văn C thật nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo, răn đe, phòng ngừa tội phạm.
Nguyễn Văn C phạm tội không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhân thân tốt. Nguyễn Văn C sau khi phạm tội đã đầu thú, thực sự khai báo thành khẩn, tạo điều kiện để cơ quan Điều tra sớm kết thúc điều tra, ăn năn hối cải; thăm hỏi, phúng viếng người bị nạn, tích cực tác động để gia đình thỏa thuận, bồi thường thiệt hại cho người bị hại 20.000.000 đồng (tại phiên tòa, thỏa thuận bồi thường tiếp 100.000.000 đồng), được gia đình xin giảm nhẹ hình phạt, là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoai ra, Nguyễn Văn C phạm tội do bị kích động về tinh thần, tuy chưa đến mức được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy: xem xét khách quan, toàn diện vụ án; động cơ, mục đích của Nguyễn Văn C đối với hậu quả đã xẩy ra đối với ông Nguyễn Văn H2, thấy rằng Nguyễn Văn C phạm tội do bị kích động về tinh thần (do hành vi can thiệp không phù hợp của anh T3, ông H2, nhất là cú đấm của ông Nguyễn Văn H2 ngay tại sân nhà bị cáo trong bữa tiệc cúng rằm của H4 mà Nguyễn Văn C là trưởng Họ), thiếu kiểm chế do đã sử dụng nhiều rượu, tuy nhiên lỗi chính vẫn thuộc về Nguyễn Văn C.
Do đó, cần khoan hồng, giảm nhẹ đáng kể hình phạt cho Nguyễn Văn C, xử phạt Nguyễn Văn C với mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp, đảm bảo tác dụng giáo dục người phạm tội, răn đe, phòng ngừa tội phạm.
[4] Về trách nhiệm dân sự
Quá trình điều tra, người đại diện hợp pháp của người bị hại gồm chị H3, chị Y, anh Â, anh B, anh B1, ông T2 đã ủy quyền lại cho anh Nguyễn Văn M giải quyết vụ việc. Hai bên đã thỏa thuận và đã bồi thường thiệt hại do tính mạng ông Nguyễn Văn H2 bị xâm phạm số tiền 20.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, hai bên thỏa thuận lại, theo đó Nguyễn Văn C còn phải bồi thường cho gia đình bị hại (thông qua bà Phan Thị T1 - vợ ông Nguyễn Văn H2) số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng). Thỏa thuận này là tự nguyện, phù hợp pháp luật, được chấp nhận.
[5] Các vấn đề khác
Đối với anh Nguyễn Văn T3 là người đã can ngăn Nguyễn Văn C và đã bị C sử dụng dao chém, nhưng không gây thiệt hại gì và anh T3 không yêu cầu bồi thường, miễn xét.
Đối với ông Nguyễn Văn H2 (bị hại) đấm vào đầu Nguyễn Văn C nhưng không gây thương tích đối với bị cáo C và bị cáo C không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
[6] Về vật chứng
- 01 chiếc dao là hung khí gây án (dài 40 cm; cán gỗ, dài 13 cm; lưỡi bằng kim loại, dài 27 cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao 04 cm; mũi dao nhọn), cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 dao dài 30 cm, lưỡi sắc, cán dao bằng gỗ dài 11 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 19 cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 6cm, mũi dao nhọn (thu giữ khi khám nghiệm hiện trường), do không liên quan đến vụ án nên trả lại chị Nguyễn Thị H1 - chủ sở hữu.
[7] Về án phí: bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 16 (mười sáu) năm tù về tội “Giết người”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (25/02/2024).
2. Căn cứ các Điều 591, 585, 586 Bộ luật dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Nguyễn Văn C và đại diện gia đình bị hại về việc bồi thường thiệt hại do tính mạng ông Nguyễn Văn H2 bị xâm phạm, cụ thể: Nguyễn Văn C còn phải bồi thường cho gia đình bị hại thông qua bà Phan Thị T1 (vợ ông Nguyễn Văn H2) số tiền 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 dao dài 40 cm, cán dao bằng gỗ dài 13 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 27 cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 4 cm, mũi dao nhọn.
- Trả lại chị Nguyễn Thị H1 01 dao dài 30 cm 1 lưỡi sắc, cán dao bằng gỗ dài 11 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 19 cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 6cm, mũi dao nhọn.
Các vật chứng trên đang do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An quản lý theo Biên bản giao nhận ngày 04/5/2024 giữa Cơ quan Điều tra Công an tỉnh N và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
4. Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.000.000đ (năm triệu đồng) án phí dân sự.
5. Bị cáo Nguyễn Văn C, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết hợp lệ bản sao Bản án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Ngọc Tiếp |
Bản án số 122/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự (giết người)
- Số bản án: 122/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: giết người
