Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2024/DSPT

Ngày: 16/8/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quý My;

Các Thẩm phán: Ông Dương Văn Bản và ông Hoàng Văn Giang.

Thư ký phiên toà: Bà Lý Bích Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Dương Thị Hương Liên - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 82/2024/TLPT - DS ngày 20 tháng 6 năm 2024 về Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 39/2024/DSST ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 156/QĐPT - DS ngày 29 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1969;

Nơi cư trú: Xóm G, Xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;

Nơi thường trú: Thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.

Bị đơn: Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1975;

Nơi cư trú: Tổ dân phố số 2, khu dân cư Kosy, phường Gia Sàng, Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Người làm chứng: Ông Trần Minh C, sinh năm 1970;

Nơi cư trú: Số nhà D, tổ dân phố Đ, phường Đ, TP T, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt ông H, ông T; vắng mặt ông C).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và bản án sơ thẩm xác định: Do có mối quan hệ quen biết, ngày 22/10/2023 nguyên đơn có cho bị đơn vay số tiền 50.000.000 đồng, cho vay bằng tiền mặt, bị đơn hẹn ngày 31/12/2023 sẽ trả tiền nhưng không thực hiện, nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc bị đơn trả số tiền nợ gốc là 50.000.000 đồng, không yêu cầu tính tiền lãi suất.

Tài liệu chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Giấy vay nợ ngày 22/10/2023 viết tay bằng mực xanh.

Bị đơn trình bày:

Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn không nợ tiền nguyên đơn, số tiền 50.000.000 đồng là do anh Đỗ Minh N, làm lái xe tại ngân hàng B vay của nguyên đơn. Bản chất là anh N vay của nguyên đơn 30.000.000 đồng, lãi suất 2.500 đồng/ 01 triệu/01 ngày, bị đơn chỉ là người đứng ra xác nhận nhân thân của anh Đỗ Minh N để cho hai bên giao dịch với nhau. Số tiền 50.000.000 đồng nguyên đơn buộc bị đơn viết giấy nhận nợ là nhận nợ thay anh N, bao gồm 30.000.000 đồng tiền gốc và 20.000.000 đồng tiền lãi, do anh N bị cơ quan cho thôi việc và đã bỏ trốn, không trả nợ cho nguyên đơn.

Người làm chứng Trần Minh C khai:

Tôi là bạn của anh Nguyễn Văn H, tôi không quen biết anh Nguyễn Đức T, buổi tối ngày 22/10/2023, tại sân nhà tôi, sau khi tôi và anh H ăn cơm tối xong, tôi thấy anh H với anh T viết giấy vay tiền với nhau, có nhờ tôi làm chứng việc anh H cho anh T vay tiền, tôi thấy anh H giao cho anh T 01 tập tiền 500.000 đồng, tổng số tiền 50.000.000 đồng. Tôi không liên quan gì đến việc vay tiền của 2 bên.

Quá trình giải quyết vụ án, các bên không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên phải đưa ra xét xử tại phiên tòa.

Tại phiên tòa các bên giữ nguyên quan điểm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà: trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền 50.000.000 đồng, nguyên đơn không yêu cầu tiền lãi suất nên không xem xét giải quyết. Buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 39/2024/DSST ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định:

Căn cứ: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 95, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Điều 357, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H.

  1. Buộc ông Nguyễn Đức T phải trả cho ông Nguyễn Văn H số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
  2. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
  3. Về án phí: Ông Nguyễn Đức T phải chịu 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước. Hoàn trả ông Nguyễn Văn H số tiền tạm ứng án phí 1.250.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002453 ngày 15/01/2024 của chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thái Nguyên.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo và quyền thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 27/5/2024 ông Nguyễn Đức T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm nêu trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như nêu trên;

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh phát biểu về sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát: Không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đức T, đề nghị giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng: Đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng vay tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Thái Nguyên.

Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xét xử, bị đơn có đơn kháng cáo trong hạn và nộp tạm ứng án phí nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

Nguyên đơn khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết buộc bị đơn trả số tiền vay 50.000.000 đồng theo giấy vay nợ ngày 22/10/2023.

Nguyên đơn khẳng định đã cho bị đơn vay số tiền 50.000.000 đồng bằng hình thức đưa tiền mặt vào ngày 22/10/2023 tại nhà anh Trần Minh C, bị đơn đã nhận tiền và tự tay viết giấy vay nợ, việc bị đơn viết giấy vay tiền và nguyên đơn đưa tiền cho bị đơn có sự làm chứng của anh Trần Minh C, bị đơn hẹn ngày 31/12/2023 sẽ trả tiền nhưng không thực hiện, hết thời hạn bị đơn không thực hiện thoả thuận nên nguyên đơn mới làm đơn khởi kiện.

Bị đơn thừa nhận tự tay viết giấy vay tiền nhưng không thừa nhận vay của nguyên đơn số tiền 50.000.000 đồng, lý do bị đơn viết giấy vay tiền là do bị đơn bị nguyên đơn ép viết nhận nợ thay cho anh Đỗ Minh N, bị đơn trình bày số tiền 50.000.000 đồng là anh N vay của nguyên đơn, trong đó có 30.000.000 đồng tiền gốc và 20.000.000 đồng tiền lãi, do anh N bị cơ quan cho thôi việc và bỏ trốn, không trả nợ cho nguyên đơn.

Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn thấy: Mặc dù bị đơn không thừa nhận vay tiền của nguyên đơn nhưng bị đơn thừa nhận tự tay viết giấy vay tiền, bị đơn cho rằng việc bị đơn viết giấy vay là do bị nguyên đơn ép nhưng bị đơn không có căn cứ chứng minh, hơn nữa việc giao nhận tiền có sự làm chứng của anh Trần Minh C. Bị đơn không thừa nhận khoản tiền vay với lý do số tiền 50.000.000 đồng là anh Đỗ Minh N vay của nguyên đơn, bị đơn chỉ là người đứng ra xác nhận nhân thân cho anh N, anh N không trả được nợ nên nguyên đơn mới buộc bị đơn nhận nợ thay, tuy nhiên bị đơn cũng không có căn cứ chứng minh; Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn thừa nhận chưa trả số tiền nêu trên cho nguyên đơn.

Việc bị đơn cho rằng anh N đã nhiều lần trả tiền lãi cho nguyên đơn bằng tài khoản số 06110000240004 tại ngân hàng B của anh Đỗ Minh N, Toà án đã thu thập sao kê tài khoản nêu trên thời điểm từ 01/01/2020 đến hết 31/12/2021 theo đề nghị của bị đơn, nhưng bị đơn không xác định được giao dịch nào là giao dịch của anh Đỗ Minh N chuyển trả tiền lãi cho nguyên đơn.

Tiến hành xác minh đối với anh Đỗ Minh N theo thông tin bị đơn cung cấp, Toà án xác định được có người tên Đỗ Minh N, sinh năm 1991, cư trú tại tổ dân phố T, phường Đ, Thành phố T, tuy nhiên theo địa phương và gia đình cho biết anh N đã đi khỏi địa phương khoảng 3 năm nay (từ khoảng năm 2021), không biết đi đâu, làm gì. Như vậy, việc bị đơn cho rằng số tiền 50.000.000 đồng anh N vay của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận.

Do đó, Hội đồng xét xử đánh giá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận, cần buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền 50.000.000 đồng.

- Về tiền lãi: Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

- Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm theo quy định. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên là có căn cứ cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 308; Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đức T, giữ nguyên bản án số 39/2024/DSST ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Về án phí: Ông Nguyễn Đức T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nộp ngân sách Nhà nước, được chuyển từ biên lai thu số 0002883 ngày 07/6/2024 của chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên sang.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND TP Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS TP Thái Nguyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Quý My

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2024/DSPT ngày 16/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 122/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đức T, giữ nguyên bản án số 39/2024/DSST ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger