TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 122/2024/HNGĐ-ST Ngày 16/4/2024 V/v T/c Hôn nhân và gia đình. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Trần Quốc Cường |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Mai Xuân Thường |
| Ông Trần Mai Khanh |
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 28/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 01 năm 2024 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1986. Địa chỉ: xóm P, xã L, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
* Bị đơn: Chị Đàm Thị D, sinh năm 1988. Nơi ĐKHKTT trước khi xuất cảnh: xóm E, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Hiện đang ở Đài Loan. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai, anh Trần Văn T trình bày: Anh và chị Đàm Thị D vào ngày 26 /08 /2010 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Thời gian đầu, sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc mặc dù vẫn có một số mâu thuẫn do quan điểm sống khác nhau và có với nhau được 01 người con chung là cháu Trần Bảo H. Khoảng tháng 7/2011, anh T đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Trong thời gian anh đi xuất khẩu lao động, vợ chồng vẫn liên lạc với nhau. Đến khoảng năm 2015, do quan điểm sống khác nhau, kết hợp với khoảng cách địa lý nên giữa hai vợ chồng không có sự chia sẻ, cảm thông cho nhau, mặc dù đã cố gắng hàn gắn nhưng mẫu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng trở nên căng thẳng. Tháng 4/2023, anh về sinh sống và làm việc tại Việt Nam. Tuy nhiên, tình cảm vợ chồng cũng không được cải thiện. Đến tháng 11/2023, chị D đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Thỉnh thoảng có liên lạc với nhau nhưng chỉ là để hỏi thăm tình hình con cái, còn về tình cảm vợ chồng hai bên đã không còn, không có bất kỳ sự hỏi thăm, chia sẻ, động viên nhau nào nữa. Nay, nhận thấy mục đích của hôn nhân không đạt được, nên anh T làm đơn yêu cầu ly hôn với chị Đàm Thị D.
Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung là cháu Trần Bảo H, sinh ngày 29/4/2011. Hiện cháu đang ở với anh. Nay ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị D cấp dưỡng.
Về tài sản của vợ chồng: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía chị Đàm Thị D: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi các văn bản tố tụng; Thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu chị Đàm Thị D có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án...cho chị Đàm Thị D thông qua ông Đàm Văn P, bà Hoàng Thị P1 là bố, mẹ của chị Đàm Thị D; thực hiện thủ tục niêm yết công khai các văn bản trên theo quy định của pháp luật, nhưng hiện chị Đàm Thị D vẫn vắng mặt và cũng không có lý do. Theo trình bày của ông P1, bà P1 thì chị D hiện đang đi làm ăn ở Đài Loan, có điện thoại về cho gia đình nhưng không nói địa chỉ hiện tại của chị D ở đâu và chị D cũng biết việc anh T làm đơn ly hôn tại Tòa án, chị D cũng đồng ý ly hôn.
Theo kết quả trả lời xác minh tại Công văn số 3192/QLXNC-P3 ngày 07/02/2024 của Cục Q – Bộ C: Chị Đàm Thị D có thông tin xuất nhập cảnh 03 lần, lần cuối xuất cảnh ngày 17/8/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
* Ý kiến của cháu Trần Bảo H: Cháu là con bố T và mẹ D nếu bố mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với bố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đường sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung đơn khởi kiện của anh Trần Văn T, cho anh T được ly hôn với chị Đàm Thị D; giao con chung của vợ chồng cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành; dành quyền khởi kiện về cấp dưỡng, chia tài sản cho các đương sự khi có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thẩm quyền giải quyết: Vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là chị Đàm Thị D có địa chỉ trước khi đi nước ngoài tại xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; chị D hiện đang sinh sống Đài Loan. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án chị Đàm Thị D vắng mặt, Tòa án đã thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ đối với chị D thông qua người thân là bố, mẹ của chị D. Bố, mẹ chị D là ông Đàm Văn P, bà Hoàng Thị P1 cho biết chị D đang đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, nhưng chị D không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài cung cấp cho ông, bà nên ông, bà không có địa chỉ của chị D cung cấp cho Tòa án. Nhưng ông, bà thông báo cho chị D biết việc anh T làm đơn ly hôn tại Tòa án thì chị D cũng đồng ý ly hôn. Kết quả xác minh tại Cục Q, chị Đàm Thị D có thông tin xuất nhập cảnh ngày 07/02/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Căn cứ khoản 1 Điều 207, khoản 1 khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.
[3] Về nội dung:
[3.1] Quan hệ hôn nhân: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, nhận thấy, anh Trần Văn T và chị Đàm Thị D kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ cuộc sống, khi chị D đang ở nước ngoài, nhưng không được hàn gắn, giải quyết. Đến nay, hai vợ chồng không còn cùng hướng đến xây dựng hạnh phúc. Khi biết anh T xin ly hôn tại Tòa án, chị D cũng đã đồng ý. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa anh Trần Văn T và chị Đàm Thị D không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Trần Văn T. Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho anh Trần Văn T được ly hôn với chị Đàm Thị D.
[3.2] Về con chung: Anh T và chị D có con chung là cháu Trần Bảo H, hiện cháu đang ở với anh T. Chị D đang ở nước ngoài chưa có điều kiện để trực tiếp chăm sóc con chung, nên cần giao cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con, anh T và chị D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.
[3.3] Tài sản chung, nợ: Anh Trần Văn T chưa yêu cầu giải quyết và chị Đàm Thị D cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[4]. Về án phí: Anh Trần Văn T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 469 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 58, 81, 82, 83, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Văn T.
[1] Quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn T được ly hôn với chị Đàm Thị D.
[2] Con chung: Giao con chung là cháu Trần Bảo H, sinh ngày 29/4/2011 cho anh Trần Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi, trưởng thành. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự chưa có ý kiến nên Tòa án không xem xét. Đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.
[3] Án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc anh Trần Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012655 ngày 30/01/2024.
[4] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau:
Anh Trần Văn T vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Chị Đàm Thị D đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Cường |
Bản án số 122/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình (ly hôn, tranh chấp về nuôi con)
- Số bản án: 122/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình (Ly hôn, tranh chấp về nuôi con)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly Hon Thang Dung
