TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 122/2024/HN-ST
Ngày: 16/4/2024
V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thanh Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân: ông Tô Ngọc Liêm, bà Đào Thị Thu Vân
Thư ký phiên tòa: ông Quách Thuận An, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Phước Lợi, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 774/2023/TLST-HN ngày 21 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2024/QĐXXST-HN ngày 08 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1993, cư trú: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
- Bị đơn: ông Trần Văn T, sinh năm 1989, cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 21/11/2023, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:
Vào năm 2014, bà và ông T cưới nhau, có tổ chức đám cưới theo phong tục truyền thống. Đến ngày 20/10/2016 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh An Giang. Thời gian chung sống ban đầu rất hạnh phúc, thời gian gần đây vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và đã ly thân từ tháng 7 năm 2023. Nay bà yêu cầu được ly hôn với ông T.
- Về con chung: có 02 con chung tên Trần Tấn P, sinh ngày 18/7/2015 và Trần Thị Ngọc H, sinh ngày 09/10/2020, hiện hai cháu đang sống với bà L. Khi ly hôn, bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án ông Trần Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông T vẫn không đến Tòa án.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông T. Về con chung, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên Trần Tấn P, sinh ngày 18/7/2015 và Trần Thị Ngọc H, sinh ngày 09/10/2020, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung thì không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân, bà L và ông T có đăng ký kết hôn vào ngày 20/10/2016 tại Ủy ban nhân dân xã T, là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Thời gian chung sống thì phát sinh mâu thuẫn từ việc bất đồng quan điểm, cự cãi và ly hôn, bà L yêu cầu ly hôn với ông T. Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn bất đồng quan điểm dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi và ly thân, ông T biết bà L có đơn yêu cầu ly hôn nhưng không có ý kiến phản hồi, cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng nên căn cứ Điều 56 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L.
Về con chung: có 02 con chung tên Trần Tấn P, sinh ngày 18/7/2015 và Trần Thị Ngọc H, sinh ngày 09/10/2020, hiện hai cháu đang sống với bà L, phát triển tốt về thể chất, tinh thần, cháu P có nguyện vọng được sống cùng bà L nên cần ổn định cuộc sống của các con chung, tiếp tục giao cháu P, cháu H cho bà L chăm sóc, nuôi dưỡng. Do bà L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập đến.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông T. Bà L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung tên Trần Tấn P và Trần Thị Ngọc H, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Nguyễn Thị L có đơn yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn T, ông T cư trú tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.
Ông Trần Văn T đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà L và ông T tự nguyện kết hôn vào năm 2016 và có đăng ký kết hôn theo đúng quy định pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông T là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Bà L xác định vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ tháng 7 năm 2023. Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, bà L và ông T không còn sống chung từ tháng 7 năm 2023 cho đến nay. Hơn nữa, ông T không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà L, từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa bà L, ông T là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về quan hệ con chung: bà L xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Trần Tấn P, sinh ngày 18/7/2015 và Trần Thị Ngọc H, sinh ngày 09/10/2020, hiện hai cháu đang sống với bà L. Xét thấy, con chung đang được bà L chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn định và tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 14/12/2023 của cháu Trần Tấn P thì cháu có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp con chung phát triển tốt về thể chất, tinh thần, Hội đồng xét xử giao cháu H và cháu P cho bà L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: bà L không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
[2.4] Về án phí sơ thẩm: bà L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 144, Điều 147 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L.
- Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Trần Văn T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 156/2016 ngày 20/10/2016 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Nguyễn Thị L và ông Trần Văn T không còn giá trị pháp lý.
- Về quan hệ con chung:
Bà Nguyễn Thị L được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên Trần Tấn P, sinh ngày 18/7/2015 và Trần Thị Ngọc H, sinh ngày 09/10/2020. Ông Trần Văn T không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.
Bà Nguyễn Thị L cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Trần Văn T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về án phí sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014636 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 21 tháng 11 năm 2023.
Ông Trần Văn T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Nguyễn Thị L có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của ông Trần Văn T được tính là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tuyền |
Bản án số 122/2024/HN-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 122/2024/HN-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 774/2023/TLST-HN ngày 21 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2024/QĐXXST-HN ngày 08 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1993, cư trú: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (có mặt). 2. Bị đơn: ông Trần Văn T, sinh năm 1989, cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
