Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 122/2024/HS-ST

Ngày: 30 – 5 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Tố Uyên.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lê Văn Công
  2. Bà Phạm Thị Thu Yến

Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà Giang, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 122/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2024/QĐXXST-HS ngày 17/5/2024 đối với các bị cáo:

  1. Ôn Tăng Gia B, sinh năm 1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 47/1 khu phố T, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 08/12; con ông Ôn P và bà Nguyễn Thị H; có vợ tên Nguyễn Thị Cẩm T và có 01 người con; tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 22/01/2021, bị Ủy ban nhân dân phường V, thành phố T Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại, xã, phường trong thời hạn 03 tháng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

    Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/7/2023 cho đến nay.

  2. Trần Duy K, sinh ngày 01/3/2006 tại tỉnh Kiên Giang; nơi thường trú: Ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 04/12; con ông Trần Huy V và bà Nguyễn Thị Hoàng O; tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 17/3/2022, bị Công an phường V quyết định xử phạt hành chính 200.000 đồng về hành vi Gây rối trật tự công cộng.

    Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/7/2023 cho đến nay.

Các bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

1

  • Bị hại: Bà Trương Thị Bích T1, sinh năm 1997; Nơi thường trú: Ấp I, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; Nơi ở hiện nay: Khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Tăng Văn N, sinh năm 1976; Nơi thường trú: 2/29 khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • Người làm chứng: Ông Trần Hồ Bảo T2. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ôn Tăng Gia BTrần Duy K là bạn bè, do không có việc làm và cần tiền tiêu xài nên B rủ K đi cướp giật tài sản của người khác. Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 12/7/2023, B điều khiển xe mô tô hiệu Wave màu xanh, biển số 61L3-8843 chở K đi đến trước địa chỉ số B khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì thấy bà Trương Thị Bích T1 đang điều khiển xe mô tô Atila màu đỏ chạy cùng chiều phía trước, trong túi áo khoác bên trái có điện thoại di động Vivo Y21S ló ra, K nói cho B biết. B điều khiển xe mô tô vượt lên áp sát bên trái cùng chiều với xe của bà T1, K ngồi phía sau dùng tay phải giật lấy chiếc điện thoại của bà T1 rồi nhanh chóng tẩu thoát. Bà T1 tri hô và cùng ông Trần Hồ Bảo T2 đuổi theo đến đường C thuộc khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì xe của B bị va quẹt và té ngã xuống đường, ông Trần Hồ Bảo T2 cùng người dân bắt giữ BK giao Công an phường B để xử lý.

Bản kết luận định giá tài sản ngày 21/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T xác định: 01 điện thoại di động Vivo Y21s 4GB, màu trắng có trị giá 3.800.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 116/CT-VKSTA ngày 26/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo: Ôn Tăng Gia B và Trần Duy K về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
  • Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị áp dụng:
    • Điểm d khoản 2 Điều 171; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Ôn Tăng Gia B1.
    • Điểm d khoản 2 Điều 171; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Duy K
  • Xử phạt các bị cáo:
    • Ôn Tăng Gia B1 từ 04 năm tù đến 05 năm tù.
    • Trần Duy K từ 02 năm 06 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù.
  • Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 2.000.000 đồng.
  • Về vật chứng: Đề nghị giao lại xe moto cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T xem xét, xử lý.

2

  • Các bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại yêu cầu xét xử vắng mặt, các bị cáo xác định thống nhất toàn bộ hành vi phạm tội của mình như lời khai trong quá trình điều tra cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Các bị cáo ăn năn hối cải đối với hành vi đã gây ra và xin giảm nhẹ hình phạt.
  • Bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 2.000.000 đồng là chi phí sữa chữa điện thoại do các bị cáo làm bể màn hình. Về hình phạt đối với các bị cáo, bị hại yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tăng Văn N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đồng thời yêu cầu được nhận lại xe mô tô hiệu Wave màu xanh, biển số 61L3-8843 để làm phương tiện đi lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
  2. [2] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là tự nguyện, không trái pháp luật, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo điểm c khoản 2 Điều 290; Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
  3. [3] Lời khai của các bị cáo Ô Tăng Gia B1Trần Duy K tại cơ quan điều tra đều thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

    Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 12/7/2023, tại khu vực trước nhà số B khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo B1 đã có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 61L3-8843 chở bị cáo K áp sát để cho bị cáo K dùng tay phải giật 01 điện thoại có trị giá 3.800.000 đồng của bị hại Tuyền rồi nhanh chóng tăng ga tẩu thoát nhưng bị truy đuổi và bị bắt giữ cùng tang vật. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

  4. [4] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố các bị cáo về tội danh, khung hình phạt là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
  5. [5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo Ô Tăng Gia B1 là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm, nhưng vì thỏa mãn nhu cầu của bản thân, muốn có tài sản sử dụng, bị cáo B1 đã khởi xướng và rủ bị cáo K cùng thực hiện hành vi cướp giật tài sản của bị hại. Hành vi của các bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người

3

khác, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, lỗi của các bị cáo là cố ý trực tiếp, do đó cần xử phạt các bị cáo với tương xứng, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

  1. [6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Theo lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra xác định bị cáo Ôn Tăng Gia B1 là người đề xuất, khởi xướng, rủ bị cáo K là người chưa thành niên thực hiện hành vi tội phạm nên bị cáo Ông Tăng Gia B1 phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” theo điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  2. [7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Đối với bị cáo Trần Duy K tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội có độ tuổi 17 tuổi 04 tháng 11 ngày nên Hội đồng xét xử áp dụng chương XII về những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội.

  3. [8] Về đồng phạm: Vụ án có tính đồng phạm nhưng đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công cụ thể. Tuy nhiên, bị cáo B1 là người khởi xướng, rủ rê, thể hiện vai trò cao hơn nên phải chịu mức hình phạt cao hơn.
  4. [9] Lời đề nghị mức hình phạt của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
  5. [10] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, các bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 2.000.000 đồng đồng tiền sử điện thoại bị hư khi bị các bị cáo giật. Đây là sự tự nguyện của các bị cáo, phù hợp pháp luật nên cần chấp nhận.
  6. [11] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

    Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Wave màu xanh, biển số: 61L3-8843 do các bị can sử dụng tại thời điểm phạm tội. Qua điều tra xác định chủ sở hữu là ông Tăng Văn N. Ông N khai nhận vào năm 2022 ông có bị mất 01 (một) xe mô tô hiệu Wave màu xanh, biển số: 61L3-8843 tại khu vực phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương và không có trình báo công an. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định phân công giải quyết nguồn tin về tội phạm để điều tra, xác minh, làm rõ vật chứng xử lý theo quy định pháp luật nên cần giao xe mô tô hiệu Wave màu xanh, biển số: 61L3-8843 cho Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

  7. [12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Điểm d khoản 2 Điều 171; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm o khoản 1 Điều 52; các Điều 46, 47, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Ôn Tăng Gia B1.
  • Điểm d khoản 2 Điều 171; Điểm s khoản 1 Điều 51; Các Điều 46, 47, 58, 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Duy K.

4

  • Các Điều 106, 136; điểm c khoản 2 Điều 290; các Điều 292; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
  • Các Điều 288, 584, 585, 586, 587, 589 của Bộ Luật Dân sự năm 2015.
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  1. Về trách nhiệm hình sự:

    Tuyên bố các bị cáo Ôn Tăng Gia B1Trần Duy K phạm tội “Cướp giật tài sản".

    Xử phạt các bị cáo:

    1.1 Ôn Tăng Gia B1 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 12/7/2023.

    1.2 Trần Duy K 02 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 12/7/2023.

  2. Về trách nhiệm dân sự:

    Buộc các bị cáo Ôn Tăng Gia B1Trần Duy K có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại bà Trương Thị Bích T1 số tiền 2.000.000 đồng, trong đó phần của mỗi bị cáo là 1.000.000 đồng.

    Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

  3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

    Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T xử lý theo thẩm quyền đối với 01 (một) xe mô tô 02 bánh kiểu dáng Wave, nhãn hiệu, số loại và thể tích không rõ, mang biển kiểm soát 61L3-8843. Số khung RNKWCH1CX5X 150796; số máy VLF1P52FMH-3 50150796 (xe bị hư hỏng phần đầu không có mặt đồng hồ, không có bửng hai bên, bánh trước cong, không kiểm tra tình trạng bên trong).

    Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

  4. Về án phí:

    Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo:

    Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

    Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh Bình Dương;
  • VKSND, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • VKSND thành phố Thuận An;
  • Công an, Chi cục THADS thành phố T;
  • Chánh án (để báo cáo);
  • Bị cáo, bị hại, NLQ;
  • Lưu HS, THAHS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tố Uyên

6

THÔNG BÁO

SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN

Căn cứ vào các Điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Xét thấy, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2024/HSST ngày 30 tháng 5 năm 2024 và Trích lục bản án hình sự sơ thẩm số: 154/2024/TLA ngày 02/7/2024 của Tòa án án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương có thiếu sót do lỗi đánh máy cần được bổ sung như sau:

  1. Về phần lý lịch của bị cáo tại Bản án và Trích lục nêu trên có ghi:

    “1. Ôn Tăng Gia B1, sinh năm 1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 47/1 khu phố T, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không;……”

    Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: 1. Ôn Tăng Gia B1, sinh năm 1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 47/1 khu phố T, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không;..."

  2. Các phần khác của Bản án và Trích lục giữ nguyên.

Toà án nhân dân thành phố Thuận An thông báo đến những người tham gia tố tụng và các cơ quan hữu quan biết.

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh Bình Dương;
  • VKSND thành phố Thuận An;
  • Chi cục THA dân sự thành phố Thuận An;
  • Chánh án (để báo cáo);
  • Bị cáo; bị hại; NLQ;
  • Lưu hồ sơ vụ án.Nguyễn Tố Uyên

THẨM PHÁN

 

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự - cướp giật tài sản

  • Số bản án: 122/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chạy xe thấy bị hại có tài sản áp sát giật xong tẩu thoát
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger