TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 122/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 14/5/2024
V/v tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà ÂU THỊ THẢO
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông QUÁCH TRUNG SƠN
- Ông ĐỖ DUY HỪNG
-Thư ký phiên tòa: Ông HỨA QUỐC THÁI - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang không tham gia phiên toà.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 100/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị LÊ THỊ THANH T, sinh năm 1992
Địa chỉ: số 147, Nguyễn Văn Kh, tổ 7, khu ph 1, thị trấn Củ Ch, huyện Củ Ch, thành phố Hồ Chí M. - Bị đơn: Anh TRẦN NGỌC T, sinh năm 1988
Địa chỉ: ấp Hậu H, xã Hậu Th, huyện Cái B, tỉnh Tiền G
(Chị T có mặt, anh T có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tờ tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Thanh T trình bày: Do quen biết nên chị và anh Trần Ngọc T chính thức xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Củ Ch, huyện Củ Ch, thành phố Hồ Chí M. Vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng đã chính thức ly thân với nhau. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh T. Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có 01 con chung tên Trần Thị Kim T, sinh ngày 25/9/2016 hiện đang sống với anh T. Nay chị đồng ý để cháu T cho anh T được tiếp tục nuôi dưỡng và chị không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
1
Tại tờ tự khai anh Trần Ngọc T trình bày: Anh đồng ý nuôi con chung và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con và anh T có đơn xin vắng mặt suốt trong quá trình tố tụng của Tòa án. Đối với các quan hệ về hôn nhân, tài sản chung và nợ chung anh T không thể hiện ý kiến.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu nêu trên, bị đơn anh Tươi có đơn xin giải quyết vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Anh Trần Ngọc T có đơn xin giải quyết vụ án vắng mặt. Căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh T là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Về nội dung:
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T do quen biết có tìm hiểu trước tiến tới xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Củ Ch, huyện Củ Ch, thành phố Hồ Chí M. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị T xác định vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng đã chính thức ly thân với nhau. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh T. Xét thấy, cho chị T được ly hôn anh T là có cơ sở. Bởi lẽ, từ khi ly thân tới nay anh chị cũng không có phương án nào để hàn gắn xây dựng tổ ấm chăm sóc con chung và chị T khẳng định không còn tình cảm với anh T. Đồng thời, trong quá trình thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh T để đảm bảo quyền nêu ý kiến của anh, cũng như hoà giải để anh chị đoàn tụ nhưng anh T không có ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị T. Chứng tỏ, anh không còn quan tâm đến cuộc sống hôn nhân giữa anh và chị T nên không có biện pháp nào để hàn gắn, đoàn tụ được. Do đó, cuộc sống hôn nhân của anh chị đã thật sự đổ vỡ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cho nên, yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, cho chị được ly hôn anh T là phù hợp theo Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có 01 con chung tên Trần Thị Kim T, sinh ngày 25/9/2016 hiện đang sống với anh T. Xét thấy, tiếp tục giao cháu T cho anh T nuôi dưỡng là có cơ sở. Bởi lẽ, cháu đã sống ổn định với anh Tươi từ khi vợ chồng ly thân đến nay cũng như cháu T cũng có nguyện vọng được sống với cha khi cha mẹ ly hôn. Mặt khác, anh T cũng đồng ý nuôi con chung. Từ đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý, đời sống học tập của cháu nên giao cháu Trần Thị Kim T cho anh T được trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét là có căn cứ.
2
[5] Về tài sản chung : Căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, chị T xác định tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết cũng như anh Tươi không có ý kiến gì liên quan đến tài sản chung nên không đặt ra xem xét là có căn cứ.
[6] Về nợ chung: Căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, chị T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết cũng như anh T không có ý kiến gì liên quan đến nợ chung nên không đặt ra xem xét là có căn cứ.
[7] Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Thị Thanh T. Cho chị Lê Thị Thanh T được ly hôn anh Trần Ngọc T.
Về con chung: Giao 01 con chung tên Trần Thị Kim T, sinh ngày 25/09/2016 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về án phí: Chị Lê Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0015023 ngày 05/03/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè nên xem như thi hành xong.
Về quyền kháng cáo: Chị T được được thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ÂU THỊ THẢO |
3
Bản án số 122/2024/HNGĐ-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG về xin ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 122/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị T xin ly hôn anh T
