|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 122/2024/HS-ST Ngày: 11 - 9 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Gia và bà Trần Thị Yến Nhi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Huỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 124/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:
Hoàng Văn T – sinh năm: 1991, tại Đắk Lắk; Nơi đăng ký thường trú: Thôn H, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở: Đường số F, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn V – 1966 và bà Triệu Thị N – 1967; Vợ: Triệu Thị H – 1989; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2013. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/5/2024 đến nay. (có mặt)
- Đại diện hợp pháp của bị hại Phạm Thị H1:
+ Bà Vương Thị Q – sinh năm: 1950.
Địa chỉ: Xóm B, xã Q, huyện Y, tỉnh Nghệ An
+ Đoàn Đại T1 – sinh năm: 2006.
+ Đoàn Đức H2 – sinh năm: 2015.
Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp F, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện theo ủy quyền của đại diện hợp pháp bị hại Phạm Thị H1: Chị Phạm Thị T2 – sinh năm: 1989. (có mặt)
Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
- Bị hại:
+ Chị Trần Thị Kim L – sinh năm: 1991. (có mặt)
Địa chỉ: Khu D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
+ Anh Lê Thành Đ – sinh năm: 1988. (có mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH K1.
Địa chỉ: Số A, đường D, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn N1 – Giám đốc. (vắng mặt)
Địa chỉ: Số H, đường D, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Lưu Hoàn V1 – sinh năm: 1996. (có mặt)
Địa chỉ: Ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
+ Anh Nông Đức L1 – sinh năm: 1988. (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn K – sinh năm: 1970. (vắng mặt)
Địa chỉ: Số C, đường D, khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người bào chữa: Bà Bùi Thị H3 – Trợ giúp viên Trung tâm Trợ giúp Pháp lý Nhà nước tỉnh Đ. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Văn T có Giấy phép lái xe hạng C theo quy định.
Vào trưa ngày 13/5/2024, Hoàng Văn T điều khiển xe ô tô tải biển số 50H-046.05 chở rau, củ, quả từ Chợ Đ, tỉnh Lâm Đồng về Chợ đầu mối Thành phố Hồ Chí Minh lưu thông trên Quốc lộ B theo hướng Lâm Đồng - D.
Đến khoảng 14 giờ 15 phút, khi đi đến Km 67+250m Quốc lộ B thuộc ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, T điều khiển xe ô tô vượt xe ô tô phía trước cùng chiều nên đã lấn sang phần đường bên trái theo chiều lưu thông của mình. Lúc này xe ô tô do T điều khiển đụng vào các xe mô tô chạy theo chiều ngược lại gồm xe mô tô 03 bánh biển số 60Y2-4078 do anh Lê Thành Đ điều khiển, tiếp đến xe mô tô biển số 60B3-968.09 do chị Trần Thị Kim L điều khiển làm xe mô tô và chị L ngã văng vào lề đường. Sau đó, xe ô tô do T điều khiển tiếp tục đụng vào xe mô tô biển số 60B4-910.41 do chị Phạm Thị H1 điều khiển làm xe mô tô và chị H1 ngã nằm dưới gầm xe ô tô, gây tai nạn giao thông đường bộ.
Hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ thể hiện:
- Vụ tại nạn giao thông xảy ra trên đoạn đường thẳng, mặt đường bằng bê tông nhựa rộng 11m; đường gồm có 04 làn đường chia thành hai chiều xe chạy, giữa đường là vạch sơn màu vàng kẻ đường không liền nét.
- Vết chà 1 được ký hiệu là (1), đầu vết hướng Lâm Đồng rộng 5,3m đo đến mép đường chuẩn là 4,1m, đo đến tâm trục bánh xe sau cùng bên trái của xe ô tô tải 50H-046.05 là 8,7m.
- Vết chà 2 được ký hiệu là (2), đầu vết hướng Lâm Đồng rộng 3,3m đo đến mép đường chuẩn là 5,9m, đo đến tâm trục bánh xe sau cùng bên phải của xe ô tô tải 50H-046.05 là 9m và đo đến đầu với (1) là 1,9m.
- Vết chà 3 được ký hiệu là (3), đầu vết hướng Lâm Đồng rộng 0,8m nằm trên mép đường chuẩn, đo đến tâm trục bánh xe trước bên trái của xe ô tô tải 50H-046.05 là 7m.
- Vết cày 1 được ký hiệu là (4) đầu vết hướng Lâm Đồng nằm trên hành lang an toàn đường bộ đo đến mép đường chuẩn là 0,4m và đo đến tâm trục bánh trước xe 60B3-968.09 làm 8,6m.
- Vết cày 2 được ký hiệu là (5) đầu vết hướng Lâm Đồng nằm trên mép đường chuẩn và đo đến điểm tiếp giáp giữa đầu gốc chân trước bên phải của xe mô tô 60B4-910.41 với mặt nền bê tông bên trong mép đường chuẩn là 5m.
- Xe ô tô tải 50H-046.05 được ký hiệu là (6), sau tai nạn đầu xe nằm trên hành lang an toàn giao thông đường bộ bên trong mép đường chuẩn, đuôi xe quay chếch ra tim đường hướng Lâm Đồng, tâm trục bánh xe sau cùng bên trái nằm trên mép đường chuẩn và đo đến tâm trục bánh trước xe ba bánh 60Y2-4078 là 1,4m; tâm trục bánh xe trước bên phải đo đến mép đường chuẩn là 2,2m; tâm trục bánh xe sau cùng bên phải đo đến mép đường chuẩn là 2m.
- Xe mô tô ba bánh 60Y2-4078 được ký hiệu là (7), sau tai nạn xe ngã nghiêng về bên trái nằm trên hành lang an toàn giao thông đường bộ bên trái thùng xe (6), đầu xe nghiêng chếch ra tim đường hướng Bảo Lộc; tâm trục bánh xe trước đo đến mép đường chuẩn là 1m; tâm trục bánh sau bên trái đo đến mép đường chuẩn là 3m và đo đến tâm trục bánh xe trước bên trái của xe (6) là 5m.
- Xe mô tô 60B4-910.41 được ký hiệu là (8), sau tai nạn xe ngã nghiêng về bên phải nằm trên hành lang an toàn giao thông đường bộ bên phải mép đường chuẩn dưới gầm ca bin xe (6) đầu xe quay chếch ra tim đường hướng Lâm Đồng; tâm trục bánh trước đo đến mép đường chuẩn là 2,8m; tâm trục bánh sau đo đến mép đường chuẩn là 3,3m.
- Xe máy điện 60B-3968.09 được ký hiệu là (9), sau tai nạn xe ngã nghiêng về bên phải nằm trên hành lang an toàn giao thông đường bộ bên phải mép đường chuẩn; đầu xe hướng vào trong đuôi xe hướng ra tim đường; tâm trục bánh trước đó đến mép đường chuẩn là 6,7m; tâm trục bánh sau đo đến mép đường chuẩn là 5,7m và đo đến tâm trục bánh trước bên trái xe (6) là 1,7m, đo đến bánh sau bên trái xe (7) là 5,2m; đo đến tâm trục bánh sau xe (8) là 3,4m, tim điện số 3360/02/02 là mốc hiện trường đo đến tâm trục bánh xe sau cùng bên trái xe (8) là 13,3m đến mép đường chuẩn là 5,8m.
Như vậy điểm dụng hoàn toàn nằm trên phần đường bên trái theo chiều lưu thông xe ô tô của Hoàng Văn T.
Hậu quả: Chị Phạm Thị H1 chết trên đường đưa đi cấp cứu, anh Lê Thành Đ và chị Trần Thị Kim L bị thương tích nhẹ, hư hỏng nhẹ 03 xe mô tô.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 141/KLGĐTT-TTPYĐN ngày 14/5/2024 của Trung tâm P – Sở Y tế tỉnh Đ kết luận nguyên nhân chết của chị Phạm Thị H1 do đa chấn thương:
+ Chấn thương ngực gây vỡ tiểu nhĩ trái, rách bao tim phải, gãy cung bên xương sườn 2-3-4-5-6 bên trái, dập phổi hai bên, tràn máu khoang ngực.
+ Chấn thương bụng gây vỡ gan phức tạp nhiều vị trí, tràn máu ổ bụng.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 4097/KLTTCT-C09B ngày 15/7/2024 của Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh – Bộ C kết luận, chị Trần Thị Kim L bị thương tích:
- 02 sẹo liên đốt gần ngón III bàn tay phải, bờ mép không gọn, kích thước nhỏ, hạn chế vận động khớp liên đốt.
- Sẹo vùng thắt lưng, bờ không gọn, kích thước lớn.
- Sẹo vùng mông trái, bờ không gọn, kích thước lớn.
- 02 vết biến đổi sắc tố da gối phải.
- Sẹo mặt trong gối trái, bờ mép không gọn, kích thước nhỏ.
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định về tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Trần Thị Kim L tại thời điểm giám định là 11%.
Anh Lê Thành Đ bị thương tích nhẹ, từ chối giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
- Về trách nhiệm dân sự: Giữa chủ xe ô tô biển số 50H-046.05 là ông Trần Văn N1, bị cáo Hoàng Văn T và các bị hại đã thực hiện việc bồi thường như sau:
+ Bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Phạm Thị H1 số tiền 300.000.000đ. Chị Phạm Thị T2 là đại diện theo ủy quyền của đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.
+ Bồi thường cho anh Lê Thành Đ số tiền 10.000.000đ. Bồi thường cho anh Nông Đức L1 thiệt hại trái sầu riêng trên xe anh Đ là 20.000.000đ. Anh L1 và anh Đ không yêu cầu bồi thường gì thêm.
+ Bồi thường cho chị Trần Thị Kim L số tiền 15.000.000đ. Riêng đối với chi phí sửa chữa xe máy điện sẽ yêu cầu bồi thường sau.
Tang vật thu giữ:
+ 01 xe ô tô biển số 50H-046.05 tạm giữ của Hoàng Văn T, 01 xe mô tô biển số 60B4-910.41 tạm giữ của chị Phạm Thị H1, 01 xe mô tô biển số 60B3-968.09 tạm giữ của chị Trần Thị Kim L. Hiện đã trao trả cho các chủ sở hữu.
+ 01 xe mô tô 03 bánh biển số 60Y2-4078 tạm giữ của anh Lê Thành Đ hiện chưa làm rõ được nguồn gốc, khi nào làm rõ, xử lý sau.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hoàng Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình theo đúng nội dung vụ án nêu trên.
Bản cáo trạng số 128/CT-VKSTP-ĐN ngày 22 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai giữ quyền công tố luận tội và tranh luận; phân tích dấu hiệu phạm tội; đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đặc điểm nhân thân của bị cáo. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề xuất mức án đối với bị cáo Hoàng Văn T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hoàng Văn T, bị đơn dân sự đã thỏa thuận bồi thường xong cho chị Trần Thị Kim L và anh Lê Thành Đ. Chị L và anh Đ có đơn bãi nại, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Đề nghị ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc tiếp tục bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Phạm Thị H1 số tiền 5.000.000đ chi phí sửa chữa xe mô tô biển số 60B4-910.41, bồi thường chi phí sửa chữa xe mô tô biển số 60B3-968.09 cho anh Lưu Hoàn V1 số tiền 28.638.968₫.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe ô tô biển số 50H- 046.05 tạm giữ của Hoàng Văn T, 01 xe mô tô biển số 60B4-910.41 tạm giữ của chị Phạm Thị H1, 01 xe mô tô biển số 60B3-968.09 tạm giữ của chị Trần Thị Kim L. Hiện các vật chứng trên đã trao trả cho các chủ sở hữu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 xe mô tô 03 bánh biển số 60Y2-4078 tạm giữ của anh Lê Thành Đ, hiện chưa xác định được nguồn gốc. Do đó, đề nghị tiếp tục giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T tạm giữ, bảo quản để điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.
Ý kiến bào chữa của bà Bùi Thị H3: Thống nhất về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng. Ngoài ra, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo có nhân thân tốt, là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng đặc biệt khó khăn, hiện đang là lao động chính trong gia đình để nuôi mẹ già và con nhỏ. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo và chủ xe đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả và tại phiên tòa bị cáo cũng tự nguyện tiếp tục bồi thường cho những người bị thiệt hại. Điều này thể hiện thái độ ăn năn, hối cải của bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo mức đầu khung hình phạt theo quy định của điều luật nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng như sau: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định:
Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 13/5/2024, Hoàng Văn T có giấy phép lái xe hạng C điều khiển xe ô tô tải biển số 50H-046.05 chở rau, củ, quả từ chợ Đ1, tỉnh Lâm Đồng về Chợ đầu mối Thành phố Hồ Chí Minh lưu thông trên quốc lộ B theo hướng Lâm Đồng - D. Khi đến Km 67+250m Quốc lộ B thuộc ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, T điều khiển xe ô tô vượt xe ô tô phía trước cùng chiều nên đã lấn sang phần đường bên trái theo chiều lưu thông. Xe ô tô do T điều khiển đụng vào mô tô 03 bánh biển số 60Y2-4078 do anh Lê Thành Đ điều khiển, xe mô tô biển số 60B3-968.09 do chị Trần Thị Kim L điều khiển, xe mô tô biển số 60B4-910.41 do chị Phạm Thị H1 điều khiển đi ngược chiều làm xe mô tô biển số 60B3-968.09 và chị L ngã văng vào lề đường, xe mô tô biển số 60B4-910.41 và chị H1 ngã nằm dưới gầm xe ô tô, gây tai nạn giao thông đường bộ.
Hậu quả: Chị Phạm Thị H1 chết trên đường đưa đi cấp cứu, chị Trần Thị Kim L bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11%, anh Lê Thành Đ bị thương tích nhẹ (không yêu cầu giám định thương tích), hư hỏng nhẹ 03 xe mô tô.
Hành vi do bị cáo Hoàng Văn T đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, nó trực tiếp xâm hại đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng của chị Phạm Thị H1 và sức khỏe, tài sản của chị Trần Thị Kim L, anh Lê Thành Đ. Bị cáo thực hiện hành vi trên với lỗi vô ý. Bản thân bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Do đó bị cáo Hoàng Văn T đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hiện nay, tình trạng những người điều khiển nguồn nguy hiểm cao độ không chấp hành những quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác đang trở thành vấn đề bức xúc đối với xã hội. Lỗi trong vụ án là lỗi hoàn toàn của bị cáo. Vì vậy để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội cần thiết phải xét xử và áp dụng cho bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội.
[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, còn xem xét bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng đặc biệt khó khăn, đang nuôi con chưa thành niên, đầu thú là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6]. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[7]. Về hình phạt:
[7.1]. Về hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.
[7.2]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8]. Về trách nhiệm dân sự:
Giữa bị cáo, bị đơn dân sự và chị Trần Thị Kim L, anh Lê Thành Đ đã thỏa thuận bồi thường xong. Chị L và anh Đ không yêu cầu bồi thường gì thêm. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Trong quá trình điều tra, bị cáo và bị đơn dân sự đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Phạm Thị H1 số tiền 300.000.000đ. Tại phiên tòa, bị cáo và chị Phạm Thị T2 thỏa thuận về việc bị cáo tự nguyện bồi thường tiếp cho đại diện hợp pháp của bị hại Phạm Thị H1 chi phí sửa chữa xe mô tô biển số 60B4-910.41 với số tiền 5.000.000₫.
Tại phiên tòa, bị cáo và anh Lưu Hoàn V1 thỏa thuận về việc bị cáo tự nguyện bồi thường chi phí sửa chữa xe mô tô biển số 60B3-968.09 cho anh V1 số tiền 28.638.968đ, làm tròn là 28.639.000đ.
Xét thấy sự thỏa thuận trên là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, vì vậy Hội đồng xét xử ghi nhận.
[9]. Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe ô tô biển số 50H- 046.05, 01 xe mô tô biển số 60B4-910.41, 01 xe mô tô biển số 60B3-968.09. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trao trả cho các chủ sở hữu là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 xe mô tô 03 bánh biển số 60Y2-4078 tạm giữ của anh Lê Thành Đ, hiện chưa xác định được nguồn gốc. Do đó, tiếp tục giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T tạm giữ, bảo quản để điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.
[10]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, khoản 1, khoản 3 Điều 21, các điểm a, c, f khoản 1 Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 1.682.000đ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
[11]. Xét quan điểm bào chữa của bà Bùi Thị H3 phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.
[12]. Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Các khoản 1, 3 Điều 21, các điểm a, c, f khoản 1 Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 13 tháng 5 năm 2024.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường thiệt hại về tài sản giữa bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cụ thể:
Bị cáo Hoàng Văn T tự nguyện bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Phạm Thị H1 gồm bà Vương Thị Q, cháu Đoàn Đại T1, cháu Đoàn Đức H2 số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng).
Bị cáo Hoàng Văn T tự nguyện bồi thường cho anh Lưu Hoàn V1 số tiền 28.639.000₫ (Hai mươi tám triệu sáu trăm ba mươi chín nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về xử lý vật chứng: Giao 01 xe mô tô 03 bánh biển số 60Y2-4078 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai để điều tra làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật. (Theo Quyết định tạm giữ đồ vật, tài liệu số 969/QĐ-CQĐT-ĐTTH ngày 21/5/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai).
Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.682.000đ (Một triệu sáu trăm tám mươi hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, tổng cộng là 1.882.000đ (Một triệu tám trăm tám mươi hai nghìn đồng)
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, bị hại, anh Lưu Hoàn V1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án. Bị đơn dân sự và anh Nông Đức L1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mai Văn Lợi |
Bản án số 122/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 122/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội
