|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 122/2024/HS-ST Ngày: 10/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nam Phương.
Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Đây.
Bà Phan Thị Ngọc Hiền.
Bà Nguyễn Thị Chi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Kim Hải - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Ông Nguyễn Hoàng Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 97/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 134/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Đình N, giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1990 tại Đồng Nai. Nơi đăng ký thường trú: khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: như trên. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh.Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 09/12. Nghề nghiệp: Không. Con ông Trần Đình A, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1961. Gia đình có 03 chị em,
bị cáo là con thứ 2 trong gia đình. Bị cáo có vợ là Trần Thị L1, sinh năm 1995, có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 24/3/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản” đến ngày 31/8/2011 được đặc xá.
Ngày 31/12/2021 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ bắt tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
- Người bào chữa theo chỉ định của bị cáo: Luật sư Nguyễn Ngọc Đ – Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.
Địa chỉ: 6/44, khu phố H, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1982.
Địa chỉ: 1878, tổ A, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng:
- Ông Bùi Tá C, sinh năm 1990.
- Ông Dương Hải T, sinh năm 1980.
Địa chỉ: khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: 28/6, khu phố D, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo, đại diện bị hại, luật sư có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 31/12/2021, anh Nguyễn Văn Lê C1, sinh năm 1974, thường trú tại số A khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mua ma túy để sử dụng và cho Trần Đình N một phần ma túy để N sử dụng. N gọi điện thoại cho anh Bùi Tá C, sinh năm 1990, thường trú tại khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đến nhà anh C1 để cùng sử dụng ma túy. Sau khi cùng N sử dụng ma túy xong thì C đi về, còn N bị ảo giác nghĩ anh C1 đang bị ma nhập nên N điều khiển xe máy đi đến chợ T1, thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mua 02 con chó con màu đen mang về nhà anh C1, rồi dùng dao cắt cổ 01 con chó lấy máu đổ lên người anh C1 để trừ ma rồi dùng tay đấm
nhiều cái vào vùng đầu của anh C1 làm anh C1 bất tỉnh. Sau đó, N lấy 01 củ tỏi, 01 củ gừng và 01 mặt dây chuyền hình ông phật bằng nhựa nhét vào miệng của anh C1 rồi lấy 01 con dao dài 72cm ở nhà bếp chém một nhát vào đầu của anh C1 gây rách da tụ máu dưới da đầu; tụ máu dưới màng cứng, xuất huyết màng não mềm và ngạt thở dẫn đến tử vong. Quá trình điều tra Trần Đình N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số 2595/KL-KTHS ngày 22/3/2022 của Giám định viên Phòng kỹ thuật hình sư Công an tỉnh Đ kết luận dấu vết thương tích và nguyên nhân Nguyễn Văn Lê C1 tử vong như sau:
Bên ngoài thấy sưng u rách da vùng đầu, xước da vùng mặt; xây xát xước đa vùng cổ trước và vùng ngực, bầm tím da vùng cánh tay. Bên trong tụ máu dưới da đầu; tụ máu dưới màng cứng lượng ít, xuất huyết màng não mềm 3 x 2cm; trong khoang miệng có nhiều dị vật gồm củ tỏi, củ gừng và mặt ông P bằng nhựa; tụ máu dưới da vùng ngực, hai phổi phù nề, xuất huyết, các tạng phù nề, xuất huyết.
Nguyên nhân tử vong: Suy hô hấp do dị vật khoang miệng chèn ép đường hô hấp; chấn thương sọ não tụ máu dưới màng cứng, xuất huyết màng não mềm.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 126/KL- VPYTT ngày 24/3/2022, của V đối với Trần Đình N:
-Về y học:
- + Trước khi gây án: Đương sự bị rối loạn nhân cách và hành vi do sử dụng chất kích thích (F15.71-ICD.10).
- + Trong khi gây án: Đương sự bị ngộ độc chất kích thích/ Rối loạn nhân cách và hành vi do sử dụng chất kích thích (F15.71-ICD.10).
- + Hiện nay: Đương sự bị bệnh rối loạn thích ứng với phản ứng hỗn hợp lo âu trầm cảm/Rối loạn nhân cách và hành vi do sử dụng chất kích thích (F43.22/F 15.71- ICD.10).
-Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi:
- + Tại thời điểm gây án và hiện nay: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần sau thời gian điều trị bắt buộc số 896/KL-VPYTT ngày 27/11/2023, của V đối với Trần Đình N:
Bị bệnh: Rối loạn sự thích ứng với phản ứng hỗn hợp lo âu trầm cảm /Rối loạn nhân cách và hành vi do sử dụng chất kích thích (F43.22/F15.71-ICD.10).
Hiện tại bệnh đã ổn, không cần thiết điều trị bắt buộc nữa. Đương sự có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật.
Tại Kết luận giám định số 621/KL-C09B ngày 23/02/2022 của Giám định viên Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 quần lửng, 01 áo thun và 01 con dao Bầu dài 72cm phân tích được 01 kiểu gen nam, trùng kiểu gen của nạn nhân Nguyễn Văn Lê Chánh .
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, gia đình bị cáo Trần Đình N đã bồi thường chi phí mai táng với số tiền 30.500.000₫ (Ba mươi triệu năm trăm nghìn đồng đồng) và được đại diện hợp pháp người bị hại là chị Nguyễn Thị Thu H làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại bản Cáo trạng số 99/CT-VKS-P2 ngày 13/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Đình N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khẳng định Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội "Giết người" là đúng, không oan sai. Bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đã bồi thường cho gia đình bị hại, được gia đình bị hại bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của người bị hại xác định đã nhận của gia đình bị cáo 30.500.000 đồng và đã bãi nại cho bị cáo. Tại Tòa, đại diện hợp pháp bị hại không yêu cầu gì khác.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Đình N đã khai nhận tội, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Đình N về tội "Giết người" quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng pháp luật.
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã bồi thường chi phí mai táng, đại diện bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cha bị cáo là quân nhân được tặng nhiều huân chương chiến sĩ vẻ vang quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đề nghị xử bị cáo mức án từ 16 đến 18 năm tù.
Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày ý kiến:
Luật sư thống nhất về tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo N về tội "Giết người" quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự. Nguyên nhân chết của anh C1 là do bị cáo bị ảo giác, bị cáo và bị hại hoàn toàn không thù oán nhau, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết định khung có tính chất côn đồ có phù hợp hay không? Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã bồi thường, đại diện bị hại đã có đơn bãi nại, gia đình bị cáo có công với cách mạng nên đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án:
Khoảng 09 giờ ngày 31/12/2021, tại nhà của anh Nguyễn Văn Lê C1 tại số A khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, sau khi sử dụng ma túy
xong thì Trần Đình N bị ảo giác nghĩ anh C1 đang bị ma nhập nên N đi đến chợ T1, thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mua 02 con chó con màu đen mang về nhà anh C1, rồi dùng dao cắt cổ 01 con chó lấy máu đổ lên người anh C1 rồi dùng tay đấm nhiều cái vào vùng đầu của anh C1, lấy 01 củ tỏi, 01 củ gừng và 01 mặt dây chuyền hình ông phật bằng nhựa nhét vào miệng của anh C1 và dùng 01 con dao dài 72cm chém một nhát vào đầu của anh C1 gây rách da tụ máu dưới da đầu, tụ máu dưới màng cứng, xuất huyết màng não mềm và ngạt thở dẫn đến tử vong.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo, nhân chứng cùng tất cả các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Trần Đình N về tội "Giết người" quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng pháp luật.
Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội, gây đau thương mất mát rất lớn cho gia đình người bị hại nên cần xử bị cáo mức án tương xứng nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, lúc phạm tội bị cáo bị hạn chế năng lực hành vi do dùng chất kích thích, đã bồi thường cho gia đình bị hại, được gia đình bị hại làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cha bị cáo có công với cách mạng. Được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Tại cơ quan điều tra, gia đình bị cáo đã bồi thường tiền mai táng phí 30.500.000 đồng, đại diện hợp pháp bị hại đã bãi nại. Tại phiên tòa đại diện hợp pháp bị hại không yêu cầu gì thêm.
[4] Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao rựa dài 72cm, phần lưỡi 36cm, phần cán 36cm; 01 con dao cán nhựa màu đen dài 30cm; 01 chiếc đục; 01 kéo gắp kim
loại; 01 khúc tre gỗ; 01 quần lửng màu nâu; 01 áo thun ngắn tay có cổ màu xanh, là vật chứng trong vụ án không có giá trị sử dụng.
[5] Ý kiến và quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
[6] Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo: Phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử về tội danh và điều luật, riêng đề nghị của Luật sư về vấn đề xem xét lại việc áp dụng điểm n "có tính chất côn đồ" cho bị cáo là không có cơ sở bởi lẽ bị cáo và bị hại hoàn toàn không có mâu thuẫn gì, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là do bị ảo giác sử dụng ma túy, đây không phải là tình tiết giảm nhẹ.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Đình N phạm tội “Giết người”.
Xử phạt bị cáo Trần Đình N 18 (Mười tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2021.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao rựa dài 72cm, phần lưỡi 36cm, phần cán 36cm; 01 con dao cán nhựa màu đen dài 30cm; 01 chiếc đục; 01 kéo gắp kim loại; 01 khúc tre gỗ; 01 quần lửng màu nâu; 01 áo thun ngắn tay có cổ màu xanh.
Tình trạng vật chứng: Đã qua sử dụng, cũ.
(Biên bản giao nhận vật chứng NK24/123 ngày 14/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo, đại diện hợp pháp người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
|
|
Trần Nam Phương |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Thẩm phán |
Thẩm phán Chủ toạ phiên toà |
|
Hoàng Thị Thu Minh |
................................................ |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai (1);
- Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
- Trại tạm giam công an tỉnh Đồng Nai (4);
- Phòng Hồ sơ – Công an tỉnh Đồng Nai (1);
- Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai (1);
- Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Đồng Nai (PC 45) (1);
- Phòng Thi hành án hình sự Tòa án tỉnh (2);
- Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai (1);
- Bị cáo (1);
- Luật sư (1);
- Lưu hồ sơ (4).
Bản án số 122/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (giết người)
- Số bản án: 122/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần ĐÌnh Nam
