|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 122/2024/DS- PT Ngày: 10/6/2024 V/v “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Việt Hùng.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang và bà Phạm Thị Chuyền.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Ngọc Anh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Bà Nguyễn Thị Việt Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 10/6/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 34/2024/DS-PT ngày 06/3/2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 03/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 125/QĐ-PT ngày 06/5/2024 giữa:
- * Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị D- Sinh năm 1949 ( Có mặt ).
- Nơi cư trú: TDP Phố, TT. Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- * Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H - Sinh năm 1966 (Có mặt).
- Nơi cư trú: TDP V, TT. Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- - Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Trần Văn B – sinh năm 1978
- Địa chỉ: số E đường N, tổ dân phố số H, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D1 – Luật sư thuộc Công ty L - Đoàn luật sư tỉnh B (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, biên bản ghi lời khai và phiên tòa nguyên đơn là bà Đỗ Thị D trình bày: Do quan hệ quen biết nên ngày 29/12/2013 bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1966, nơi ở TDP V, TT. Đ, huyện L vay của bà D 275.000.000 đồng tiền gốc và nợ lãi 10.300.000 đồng từ trước; khi vay tiền thì có viết giấy vay nhận tiền, thỏa thuận lãi suất là 1%/ tháng, không thời hạn nhưng thỏa thuận lúc nào bà D đòi thì trả . Tuy nhiên đến nay bà D đòi nhiều lần nhưng bà H không trả đồng nào tiền gốc và lãi suất. Nay bà D yêu cầu bà H trả 275.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi còn lại 10.300.000 đồng và lãi suất 1%/ tháng trên số tiền gốc 275.000.000 đồng tính đến ngày 29/12/2023 tròn 10 năm.
Về án phí : Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
* Bị đơn là bà Nguyễn Thị H và Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H tại bản tự khai và biên bản hòa giải trình bày: Từ năm 2012, bà Nguyễn Thị H vay tiền của bà Đỗ Thị D nhiều lần, tổng cộng bao nhiêu lần và bao nhiêu tiền không nhớ chính xác; bà H đã thanh toán trả bà D nhiều lần tiền gốc nhưng không nhớ bao nhiêu tiền, khi trả thì không viết giấy, tài liệu gì. Đến ngày 29/12/2013 thì bà H và bà D viết Giấy vay nhận tiền, nội dung bà H vay của bà D 275.000.000 đồng nhưng là tiền nợ lãi và nợ lãi còn lại từ trước là 10.300.000 đồng, tổng cộng 285.300.000 đồng. Số tiền trên là tiền lãi chứ không phải tiền gốc. Số nợ trên là tiền nợ riêng của bà H, không liên quan tới ai khác.
Nay bà D yêu cầu bà H trả 275.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi còn lại 10.300.000 đồng và lãi suất 1%/ tháng trên số tiền gốc 275.000.000 đồng tính đến ngày xét xử vụ án thì bà H đồng ý trả 285.300.000 đồng nhưng tính là tiền lãi suất, không đồng ý trả 275.000.000 đồng tiền gốc tiền lãi còn lại 10.300.000 đồng và lãi suất 1%/ tháng trên số tiền gốc 275.000.000 đồng tính đến ngày xét xử vụ án. Bà H xin được trả bà D dần số tiền 285.300.000 đồng trên.
Với nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 03/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam đã quyết định:
- Căn cứ các Điều 463, 466, Điều 468, Điều 469 Bộ luật dân sự; các Điều 147, 227, 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/ 2016/ UBTVQH14, ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ trả bà Đỗ Thị D 275.000.000 đồng tiền gốc + 340.300.000 đồng tiền lãi suất, tổng cộng 615.300.000 đồng( Sáu trăm mười lăm triệu ba trăm ngàn đồng).
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án đối với các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 19/01/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị H kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận khoản tiền lãi phát sinh theo giấy nợ.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn thống nhất trình bày như sau: Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm do đã có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Tòa án cấp sơ thẩm đã không đưa ông Q vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Việc bà D cho bà H vay tiền với mức lãi suất 2.000 đồng/triệu/ngày là lãi suất cao, đề nghị HĐXX phúc thẩm chuyển hồ sơ sang cơ quan công an để điều tra về hành vi cho vay nặng lãi, đồng thời áp dụng Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự hủy bản án dân sự sơ thẩm.
+ Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang phát biểu:
- - Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và các đương sự đã chấp hành đầy đủ các trình tự, thủ tục của BLTTDS.
- - Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang áp dụng khoản 1, Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xử.
- - Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Xét yêu cầu kháng cáo của Bị đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1]. Căn cứ vào lời khai của các bên cũng như tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện có việc vay tiền giữa bà H và bà D. Tại Giấy vay nhận tiền ngày 29/12/2013 thể hiện nội dung bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1966, nơi ở TDP V, TT. Đ, huyện L vay của bà D 275.000.000 đồng và nợ lãi 10.300.000 đồng từ trước, không thỏa thuận thời hạn trả nợ, lãi suất 1%/ tháng, bà H ký nhận. Về hình thức, nội dung của hợp đồng vay tài sản hoàn toàn phù hợp với Điều 433 Bộ luật dân sự. Khi ký hợp đồng các bên đều có đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. Các bên hoàn toàn tự nguyện không bị ép buộc. Nội dung hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Hội đồng xét xử thấy rằng các hợp đồng vay tài sản ngày 29/12/2013 giữa bà Nguyễn Thị H và bà Đỗ Thị D thỏa mãn điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
Bà H thừa nhận nội dung Giấy vay tiền ngày 29/12/2013 và có vay bà D 275.000.000 đồng, tuy nhiên bà xác định đây là tiền nợ lãi và nợ lãi còn lại là 10.300.000 đồng, tổng cộng 285.300.000 đồng. Xét thấy, Giấy vay tiền ngày 29/12/2013 không thể hiện 275.000.000 đồng là tiền nợ lãi. Nguyên đơn bà Đỗ Thị D không thừa nhận số tiền 275.000.000 đồng là tiền nợ lãi như bà H trình bày. Ngoài lời khai của mình, bà H không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó không có căn cứ để xác định số tiền trên là tiền nợ lãi chứ không phải nợ gốc như bà H trình bày.
HĐXX sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà D yêu cầu bà H trả 275.000.000 đồng tiền gốc và nợ lãi 10.300.000 đồng từ trước là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[2.2]. Đối với yêu cầu trả lãi:
Nội dung Giấy vay tiền ngày 29/12/2013, các bên thỏa thuận lãi suất 1%/tháng, không thời hạn. Xét thấy, nội dung thỏa thuận này là trong phạm vi lãi suất cho phép theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự 2015. Nay bà D đề nghị tính lãi suất 1%/ tháng trên số tiền gốc 275.000.000 đồng tính đến ngày 29/12/2023 là phù hợp với Điều 468 Bộ luật dân sự, do vậy Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu tính lãi của nguyên đơn là có căn cứ.
Lãi suất được áp dụng là 1%/tháng, từ ngày 29/12/2013 đến ngày 29/12/2023 là 120 tháng.
Vậy số tiền lãi được tính là: 275.000.000 đồng x 1%/ tháng x 120 tháng = 330.000.000 đồng + nợ lãi 10.300.000 đồng từ trước, tổng cộng 340.300.000 đồng tiền lãi.
[2.3]. Ngoài ra, bà Nguyễn Thị H còn kháng cáo không chấp nhận án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm, xét thấy:
Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án quy định bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận. Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị D được chấp nhận nên bị đơn là bà Nguyễn Thị H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Căn cứ khoản 3 Điều 24 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết này, HĐXX sơ thẩm buộc bà H phải có nghĩa vụ chịu 28.612.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
[2.4]. Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị hủy bản án sơ thẩm vì lý do không đưa ông Q là chồng của bà H vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. HĐXX xét thấy mặc dù trong Giấy vay nhận tiền có ghi mục đích vay là đổi sổ Ngân hàng và phần ký tên có ký tên “Hạnh Q“ tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm bà H trình bày trong thời gian vay tiền thì gia đình bà không có việc vay Ngân hàng. Việc ghi mục đích vay như trong Giấy vay tiền là không đúng và việc ghi chữ “Hạnh Quảng“ là do bà tự ghi chứ ông Q không có mặt không ký tên. Do vậy, xác định số tiền vay là tiền nợ riêng của bà H, không liên quan đến ông Q. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông Q vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là có căn cứ.
[2.5]. Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đề nghị xem xét chuyển hồ sơ sang cơ quan công an để điều tra về hành vi cho vay nặng lãi của bà D. HĐXX xét thấy, mặc dù người đại diện theo ủy quyền có trình bày bà D cho bà H vay với mức 2 triệu đồng/triệu/ngày, tuy nhiên ngoài lời trình bày thì ông B và bà H không có tài liệu chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận đề nghị này.
Từ những đánh giá trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xử.
[3] Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét, giải quyết các quyết định khác của bản án sơ thẩm mà không có kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo bà Nguyễn Thị H không được chấp nhận nên bà H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị H, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 03/1/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ đi 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại biên lai số 0008058 ngày 19/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam. Xác nhận bà H đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi gửi: |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM |
|
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Việt Hùng |
Bản án số 122/2024/DS- PT ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 122/2024/DS- PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hợp đồng vay tài sản
