Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2024/DS-PT
Ngày: 09 - 5 - 2024
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Nhu

Các Thẩm phán: Ông Đỗ Minh Nhựt

Bà Trần Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 93/2024/TLPT-DS, ngày 26 tháng 02 năm 2024 về việc: “Tranh chấp di sản thừa kế, đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thanh toán chi phí bảo quản di sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 75/2023/DS-ST, ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 106/2024/QĐ-PT, ngày 27 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Võ Thị C, sinh năm 1964.

    Địa chỉ: Tổ A, Ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt).

  • - Bị đơn: Bà Võ Thị H, sinh năm 1959.

    Địa chỉ: Tổ B, Ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt).

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Bà Võ Thị P, sinh năm 1966.

      Địa chỉ: Tổ B, Ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt).

    2. Bà Võ Thị H1, sinh năm 1960.

      Địa chỉ: Tổ B, Ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).

    3. Anh Võ Văn H2, sinh năm 1980.

    4. Chị Đặng Thị Thúy H3, sinh năm 1990.

      Cùng địa chỉ: Tổ B, Ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt).

    5. Bà Võ Thị S, sinh năm 1954.

      Địa chỉ: Ấp X, xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương.

      Người đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Thị Thu H4, sinh năm 1990; địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt).

    6. Ông Võ Văn H5, sinh năm 1947.

      Địa chỉ: Tổ B, Ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).

  • - Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Võ Thị C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung, các bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và trong quá trình xét xử, nguyên đơn, bà Võ Thị C trình bày:

Phần đất đang tranh chấp thuộc thửa đất số 234, tờ bản đồ số 17, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai nguồn gốc do ba ruột của bà là ông Võ Văn T để lại (ông T chết năm 1998). Khi ba bà chết thì không để lại di chúc. Mẹ bà (vợ ông T) là bà Nguyễn Thị B đã chết từ năm 1979, ông bà nội, ông bà ngoại của bà đã chết trước ba mẹ bà từ lâu. Bà xác định di sản là của một mình ba bà ông Võ Văn T để lại.

Ông Võ Văn T gồm có các người con: Gồm có ông Võ Văn H5 là con riêng của ông T, mẹ của ông H5 tên Lê Thị Đ đã chết từ khi mới sinh ông H5, bố mẹ của bà Đ cũng đã chết trước bà Đ, họ tên ông bà ngoại ông H5 là ai thì bà không biết; Ba mẹ bà có các người con chung gồm: Bà Võ Thị P, bà Võ Thị H1, bà Võ Thị H, ông Võ Văn H5, Võ Thị S và bà là Võ Thị C. Ngoài ra ba mẹ bà không có người con riêng, hay con nuôi nào khác.

Vào thời điểm ông Võ Văn T chết thì phần diện tích đất tranh chấp là di sản do ông T để lại nêu trên ông Võ Văn T đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 887602 ngày 05/01/2000. Khi ông T chết không để lại di chúc, lúc đó để thuận tiện trong việc làm giấy tờ nên bà, bà H, bà H1, bà P đã thống nhất lập biên bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế để bà được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng bản chất chỉ là được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn phần đất đang tranh chấp trong vụ án này bà vẫn xác định là đồng thừa kế của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Võ Văn T là tất cả anh chị em của bà.

Quá trình quản lý, sử dụng đất: Khi bà H sinh anh Võ Văn H2, thì cả bà H và anh H2 đều về ở cùng ông Võ Văn T trên phần diện tích đất đang tranh chấp, lúc đó ở cùng với chị em bà là Võ Thị C, Võ Thị H1 và Võ Thị P. Rồi đến khoảng mấy năm sau (thời gian cụ thể không nhớ) bà H lấy chồng mới nhà cũng ở gần đó thì anh Võ Văn H2 lúc thì ở với bà Võ Thị H, lúc thì ở với ông Võ Văn T, anh H2 đi qua đi lại ở với cả hai. Đến khi ông Võ Văn T chết (năm 1998) thì anh H2 cũng đã được 18 tuổi nên anh H2 không còn ở trên đất mà đi làm ăn xa, đi làm ăn ở đâu bà không rõ, sau đó anh H2 lấy vợ là chị H3, một thời gian sau thì anh H2, chị H3 về ở trên đất, thời gian cụ thể về ở trên đất bà không nhớ. Lúc anh H2, chị H3 về ở trên đất thì lúc đó trên đất căn nhà tôn của ông T đã bị hư hỏng nên anh H2, chị H3 đã dựng căn nhà lá để ở, đến khoảng năm 2015 thì anh H2, chị H3 đã xây dựng căn nhà xây và tài sản trên đất hiện nay như khi Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ. Hiện nay trên đất có những tài sản như biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án.

Khi vợ chồng anh Võ Văn H2 về ở trên đất vì nghĩ là đất do ông Võ Văn T để lại, vợ chồng anh Võ Văn H2 là con cháu nên về ở trên đất và quản lý, sử dụng đất thì những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông T cũng không có ý kiến gì vì xác định đất vẫn là tài sản của tất cả anh chị em thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Võ Văn T.

Tại đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và tại phiên toà bà yêu cầu Toà án giải quyết:

  • + Yêu cầu chia di sản thừa kế là diện tích đất 1.158,8m² (trong đó có 300m² là loại đất ONT, 858,8m² là loại đất CLN) thuộc một phần thửa đất số 234, tờ bản đồ số 17, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai thành 06 phần bằng nhau cho bà, bà Võ Thị P, bà Võ Thị H1, bà Võ Thị H, bà Võ Thị S và ông Võ Văn H5 (phần diện tích đất này bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Đối với yêu cầu này bà có yêu cầu chia cho bà, bà Võ Thị P và bà Võ Thị S được cùng quản lý, sử dụng đối với diện tích đất 579,4m² được ký hiệu thửa tạm là thửa đất số 234a thuộc một phần thửa đất số 234, tờ bản đồ số 17, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai (bản đồ năm 2006) được giới hạn bởi các điểm 1,2,3,4,1 tại Bản đồ hiện trạng thửa đất số 14883/2022 ngày 12/12/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L và bà yêu cầu chia cho bà Võ Thị H, bà Võ Thị H1 và ông Võ Văn H5 được cùng quản lý, sử dụng đối với diện tích đất 579,4m² được ký hiệu thửa tạm là thửa đất số 234b, thuộc một phần thửa đất số 234, tờ bản đồ số 17, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai (bản đồ năm 2006) được giới hạn bởi các điểm 3, 5, 6, 7, 8, 9, 4, 3 tại Bản đồ hiện trạng thửa đất số 14883/2022 ngày 12/12/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bà xin rút đối với hai yêu cầu khởi kiện sau:

  • + Yêu cầu bà Võ Thị H trả lại cho bà bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CE 953818 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho bà Võ Thị C ngày 30/11/2016 đối với thửa đất số 234, tờ bản đồ số 17, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
  • + Yêu cầu chia di sản thừa kế đối với diện tích đất 873,3m² được ký hiệu thửa tạm là thửa đất số 234c thuộc một phần thửa đất số 234, tờ bản đồ số 17, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai (bản đồ năm 2006) được giới hạn bởi các điểm 9, 8, 7, 6, 10, 11, 12, 9 tại Bản đồ hiện trạng thửa đất số 14883/2022 ngày 12/12/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L.

Việc rút hai yêu cầu khởi kiện nêu trên của bà là tự nguyện.

Đối với yêu cầu độc lập của anh Võ Văn H2 và chị Đặng Thị Thúy H3 thì bà không đồng ý.

2. Bị đơn bà Võ Thị H trình bày:

Phần đất đang tranh chấp thuộc một phần thửa đất số 234, tờ bản đồ số 17, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai (phần đất hiện nay bà Võ Thị C đang đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) nguồn gốc do ba ruột của bà ông Võ Văn T để lại. Khi ông T chết thì ông T không để lại di chúc. Mẹ bà (vợ ông T) là bà Nguyễn Thị B đã chết từ lâu (chết năm 1979), ông bà nội, ông bà ngoại của bà đã chết trước ba mẹ bà từ lâu. Bà xác định di sản là phần diện tích đất đang tranh chấp nêu trên là của mình ba bà ông Võ Văn T để lại.

Về hàng thừa kế thứ nhất của ông T thì bà thống nhất với lời khai của bà C nêu trên.

Vào thời điểm ông Võ Văn T chết thì ông Võ Văn T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất tranh chấp thuộc một phần thửa đất số 234, tờ bản đồ số 17, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Khi ông T chết không để lại di chúc, nên sau đó bà, bà C, bà P, bà H1 đã đã ký tên trong biên bản, sau này bà mới biết là biên bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, bà tưởng lúc đó bà ký tên là ký tên để cả mấy chị em bà được quyền đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hoàn toàn không biết là ký tên để một mình bà C được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất đang tranh chấp. Bà xác định phần diện tích đất tranh chấp vẫn là của anh chị em bà là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Võ Văn T.

Về quá trình quản lý, sử dụng: Con trai bà Võ Văn H2 từ khi bà mới sinh anh H2 thì bà và anh H2 sống chung với ông Võ Văn T trên phần diện tích đất tranh chấp, sau đó bà lấy chồng mới thì con trai bà Võ Văn H2 khi thì ở với bà, khi thì ở với ông Võ Văn T, đến khoảng mấy năm sau (năm cụ thể bà không nhớ) thì anh H2 lúc đó khoảng 10 tuổi đã về ở luôn với ông Võ Văn T từ đó cho đến năm 2010 thì anh H2 lấy con dâu bà là Đặng Thị Thúy H3. Từ khi anh H2, chị H3 lấy nhau thì có dựng cái nhà lá khoảng 60m², đến năm 2015 cái nhà lá bị sụp nên hai vợ chồng anh H2, chị H3 mới bỏ tiền xây dựng nhà như hiện nay và ở trên đất quản lý, sử dụng đất cho đến nay.

Khi vợ chồng anh Võ Văn H2 ở trên đất thì vì nghĩ là đất do ông Võ Văn T để lại, vợ chồng anh H2 là con cháu nên về ở trên đất và quản lý, sử dụng đất thì những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông T không ai có ý kiến gì.

Nay tại phiên toà nguyên đơn bà C yêu cầu chia di sản thừa kế là diện tích đất 1.158,8m² thuộc một phần thửa đất số 234, tờ bản đồ số 17, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai thành 06 phần bằng nhau cho bà C, bà Võ Thị P, bà Võ Thị H1, bà Võ Thị H, bà Võ Thị S và ông Võ Văn H5 (phần diện tích đất này bà C đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Đối với yêu cầu này bà C có nguyện vọng chia cho bà C, bà Võ Thị P và bà Võ Thị S được đồng quản lý, sử dụng đối với diện tích đất 579,4m² được ký hiệu thửa tạm là thửa đất số 234a thuộc một phần thửa đất số 234, tờ bản đồ số 17 xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai (bản đồ năm 2006) được giới hạn bởi các điểm 1,2,3,4,1 tại Bản đồ hiện trạng thửa đất số 14883/2022 ngày 12/12/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L và bà C yêu cầu chia cho bà, bà Võ Thị H1 và ông Võ Văn H5 được đồng quản lý, sử dụng đối với diện tích đất 579,4m² được ký hiệu thửa tạm là thửa đất số 234b thuộc một phần thửa đất số 234, tờ bản đồ số 17, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai (bản đồ năm 2006) được giới hạn bởi các điểm 3, 5, 6, 7, 8, 9, 4, 3 tại Bản đồ hiện trạng thửa đất số 14883/2022 ngày 12/12/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L thì bà đồng ý. Bà không yêu cầu phải thanh toán lại giá trị đất cho bà nếu phần bà được hưởng có giá trị thấp hơn.

Đối với việc bà C rút hai yêu cầu khởi kiện nêu trên thì bà không có ý kiến. Đề nghị Toà án xem xét theo quy định của pháp luật.

Đối với yêu cầu độc lập của anh Võ Văn H2 và chị Đặng Thị Thúy H3 thì bà đồng ý.

3. Theo đơn yêu cầu độc lập, lời khai có tại hồ sơ vụ án và trong quá trình xét xử, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Văn H2 và chị Đặng Thị Thúy H3 thống nhất trình bày:

Anh chị thống nhất lời khai của bị đơn bà Võ Thị H.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị C thì anh chị đồng ý.

Nguyên đơn rút đối với hai yêu cầu khởi kiện nêu trên thì anh chị không có ý kiến, đề nghị Toà án xem xét theo quy định của pháp luật.

Nay tại phiên toà anh chị giữ nguyên yêu cầu độc lập, yêu cầu Toà án giải quyết như sau:

  1. Yêu cầu người được hưởng thừa kế đối với diện tích đất 579,4m² thuộc thửa đất số 234b thuộc một phần thửa đất số 234, tờ bản đồ số 17, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai (bản đồ năm 2006) được giới hạn bởi các điểm 3, 5, 6, 7, 8, 9, 4, 3 tại Bản đồ hiện trạng thửa đất số 14883/2022 ngày 12/12/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L phải thanh toán cho anh chị giá trị tài sản trên đất với số tiền là 204.369.900 đồng.
  2. Yêu cầu người được hưởng di sản đối với diện tích đất 579,4m² thuộc thửa đất số thửa đất số 234a thuộc một phần thửa đất số 234, tờ bản đồ số 17 xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai (bản đồ năm 2006) được giới hạn bởi các điểm 1,2,3,4,1 và diện tích đất 579,4m² thuộc thửa đất số 234b thuộc một phần thửa đất số 234, tờ bản đồ số 17 xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai (bản đồ năm 2006) được giới hạn bởi các điểm 3, 5, 6, 7, 8, 9, 4, 3 tại Bản đồ hiện trạng thửa đất số 14883/2022 ngày 12/12/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L phải thanh toán cho anh H2, chị H3 số tiền 210.000.000 đồng là tiền thanh toán công sức gìn giữ bảo quản di sản.

Ngoài ra anh chị không yêu cầu gì thêm.

4. Theo lời khai có tại hồ sơ vụ án và tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị P trình bày:

Bà thống nhất với ý kiến trình bày của nguyên đơn bà Võ Thị C. Bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị C, bà không đồng ý với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Văn H2 và chị Đặng Thị Thúy H3. Bà không có yêu cầu độc lập trong vụ án này. Nguyên đơn bà Võ Thị C rút một phần yêu cầu khởi kiện nêu trên thì bà đồng ý.

5. Theo lời khai có tại hồ sơ vụ án và tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn H5 trình bày:

Ông thống nhất với ý kiến trình bày của nguyên đơn bà Võ Thị C. Ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị C, ông đồng ý với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Văn H2 và chị Đặng Thị Thúy H3. Ông không có yêu cầu độc lập trong vụ án này. Nguyên đơn bà Võ Thị C rút một phần yêu cầu khởi kiện nêu trên thì ông đồng ý. Ông không yêu cầu phải thanh toán giá trị đất chênh lệch nếu phần ông được hưởng có giá trị thấp hơn.

6. Theo lời khai có tại hồ sơ vụ án và tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị S do chị Nguyễn Thị Thu H4 đại diện trình bày:

Bà S thống nhất với ý kiến trình bày của nguyên đơn. Bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị C. Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Văn H2 và chị Đặng Thị Thúy H3 thì bà không có ý kiến, đề nghị HĐXX xem xét theo quy định pháp luật. Bà không có yêu cầu độc lập trong vụ án này. Nguyên đơn bà Võ Thị C rút một phần yêu cầu khởi kiện nêu trên thì bà đồng ý.

7. Tại lời khai có tại hồ sơ vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị H1 trình bày:

Bà xác định di sản do ông Võ Văn T để lại, ông T chết không để lại di chúc. Hàng thừa kế thứ nhất của ông T bà thống nhất như nguyên đơn bà C trình bày.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà C và yêu cầu độc lập của anh Võ Văn H2 và chị Đặng Thị Thúy H3 bà yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật. Bà không có yêu cầu độc lập trong vụ án này.

8. Quyết định của bản án sơ thẩm:

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 75/2023/DS-ST, ngày 28 tháng 8 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai căn cứ các Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 157, 165, 227, 228, 235, 266, 271, 273, 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 168, 170, 179, 188 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 633, 638, 640, 674, 675, 676, 685 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 649, 650, 651, khoản 2 Điều 616, khoản 2 Điều 618, 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị C đối với bị đơn bà Võ Thị H, cụ thể:
    1. Đình chỉ xét xử về việc "Tranh chấp đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất" đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CE 953818 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho bà Võ Thị C ngày 30/11/2016 đối với thửa đất số 234, tờ bản đồ số 17, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai;
    2. Đình chỉ xét xử về việc "Tranh chấp di sản thừa kế" đối với diện tích đất 873,3m² được ký hiệu thửa tạm là thửa đất số 234c thuộc một phần thửa đất số 234, tờ bản đồ số 17, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai (bản đồ năm 2006) được giới hạn bởi các điểm 9, 8, 7, 6, 10, 11, 12, 9 tại Bản đồ hiện trạng thửa đất số 14883/2022 ngày 12/12/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị C đối với bị đơn bà Võ Thị H về việc "Tranh chấp di sản thừa kế".
    1. Chia cho bà Võ Thị C, bà Võ Thị P và bà Võ Thị S được sử dụng đối với diện tích đất 579,4m² (trong đó có 150m² là loại đất ở nông thôn (ONT) và 429,4 m² là loại đất trồng cây lâu năm (CLN)) được ký hiệu thửa tạm là thửa đất số 234a, thuộc một phần thửa đất số 234, tờ bản đồ số 17, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai được giới hạn bởi các điểm 1,2,3,4,1 tại Bản đồ hiện trạng thửa đất số 14883/2022 ngày 12/12/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L.
    2. Chia cho bà Võ Thị H, bà Võ Thị H1 và ông Võ Văn H5 được sử dụng đối với diện tích đất 579,4m² (trong đó có 150m² là loại đất ở nông thôn (ONT) và 429,4 m² là loại đất trồng cây lâu năm (CLN)) được ký hiệu thửa tạm là thửa đất số 234b, thuộc một phần thửa đất số 234, tờ bản đồ số 17, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai được giới hạn bởi các điểm 3, 5, 6, 7, 8, 9, 4, 3 tại Bản đồ hiện trạng thửa đất số 14883/2022 ngày 12/12/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L. Bà Võ Thị H, bà Võ Thị H1 và ông Võ Văn H5 được quyền sở hữu tài sản trên thửa tạm số 234b nêu trên, bao gồm: Mái tôn: Có diện tích 8,8m²; Chuồng gà: Có diện tích 11,9 m²; Nhà ở gia đình: Có diện tích 59,9m²; 01 Giếng khoan.
    3. Bà Võ Thị C phải thanh toán cho bà Võ Thị H1 giá trị chênh lệch của phần diện tích đất được hưởng thừa kế với số tiền là 25.751.100 đồng (Hai mươi lăm triệu bảy trăm năm mươi mốt ngàn một trăm đồng).
    4. Bà Võ Thị P phải thanh toán cho bà Võ Thị H1 giá trị chênh lệch của phần diện tích đất được hưởng thừa kế với số tiền là 25.751.100 đồng (Hai mươi lăm triệu bảy trăm năm mươi mốt ngàn một trăm đồng).
    5. Bà Võ Thị S phải thanh toán cho bà Võ Thị H1 giá trị chênh lệch của phần diện tích đất được hưởng thừa kế với số tiền là 25.751.100 đồng (Hai mươi lăm triệu bảy trăm năm mươi mốt ngàn một trăm đồng).
    6. Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
  3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Văn H2 và chị Đặng Thị Thúy H3 về việc "Tranh chấp yêu cầu thanh toán chi phí bảo quản di sản".

    Buộc bà Võ Thị H phải thanh toán cho anh Võ Văn H2 và chị Đặng Thị Thúy H3 số tiền 103.123.300 đồng (Một trăm linh ba triệu một trăm hai mươi ba ngàn ba trăm đồng).

    Buộc bà Võ Thị H1 phải thanh toán cho anh Võ Văn H2 và chị Đặng Thị Thúy H3 số tiền 103.123.300 đồng (Một trăm linh ba triệu một trăm hai mươi ba ngàn ba trăm đồng).

    Buộc ông Võ Văn H5 phải thanh toán cho anh Võ Văn H2 và chị Đặng Thị Thúy H3 số tiền 103.123.300 đồng (Một trăm linh ba triệu một trăm hai mươi ba ngàn ba trăm đồng).

    Buộc bà Võ Thị C phải thanh toán cho anh Võ Văn H2 và chị Đặng Thị Thúy H3 số tiền 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng).

    Buộc bà Võ Thị P phải thanh toán cho anh Võ Văn H2 và chị Đặng Thị Thúy H3 số tiền 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng).

    Buộc bà Võ Thị S phải thanh toán cho anh Võ Văn H2 và chị Đặng Thị Thúy H3 số tiền 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng).

  4. Về chi phí tố tụng: Bà Võ Thị C, bà Võ Thị H, bà Võ Thị P, bà Võ Thị S, bà Võ Thị H1 và ông Võ Văn H5 phải chịu 72.962.000 đồng (Bảy mươi hai triệu chín trăm sáu mươi hai ngàn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và thẩm định giá tài sản (trong đó mỗi người phải chịu 12.160.300 đồng (Mười hai triệu một trăm sáu mươi ngàn ba trăm đồng). Do bà C đã nộp tạm ứng chi phí này nên:

    Buộc bà Võ Thị H phải trả lại cho bà Võ Thị C số tiền 12.160.300 đồng (Mười hai triệu một trăm sáu mươi ngàn ba trăm đồng).

    Buộc bà Võ Thị P phải trả lại cho bà Võ Thị C số tiền 12.160.300 đồng (Mười hai triệu một trăm sáu mươi ngàn ba trăm đồng).

    Buộc bà Võ Thị H1 phải trả lại cho bà Võ Thị C số tiền 12.160.300 đồng (Mười hai triệu một trăm sáu mươi ngàn ba trăm đồng).

    Buộc bà Võ Thị S phải trả lại cho bà Võ Thị C số tiền 12.160.300 đồng (Mười hai triệu một trăm sáu mươi ngàn ba trăm đồng).

    Buộc ông Võ Văn H5 phải trả lại cho bà Võ Thị C số tiền 12.160.300 đồng (Mười hai triệu một trăm sáu mươi ngàn ba trăm đồng).

  5. Về án phí:

    Bà Võ Thị H, bà Võ Thị H1, bà Võ Thị S, ông Võ Văn H5 được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    Bà Võ Thị C phải chịu 20.416.400 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ các số tiền tạm ứng án phí bà C đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0005398 ngày 04/3/2022; 1.250.000 đồng theo Biên lai thu số 0005704 ngày 11/5/2022 và 875.000 đồng theo Biên lai thu số 0005944 ngày 29/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai; Bà Võ Thị C còn phải nộp tiếp 17.991.400 đồng (Mười bảy triệu chín trăm chín mươi mốt ngàn bốn trăm đồng) tiền án phí.

    Bà Võ Thị P phải chịu 20.416.400 đồng (Hai mươi triệu bốn trăm mười sáu ngàn bốn trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Hoàn trả cho anh Võ Văn H2 và chị Đặng Thị Thúy H3 số tiền tạm ứng án phí 14.616.000 đồng (Mười bốn triệu sáu trăm mười sáu ngàn đồng) đã nộp theo Biên lai thu số 0009663 ngày 16 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

    Bà Võ Thị C phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm. Số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà Võ Thị C đã nộp theo biên lai thu số 0002303 ngày 13/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành được trừ vào tiền án phí bà C phải nộp.

    Bà Võ Thị P phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm. Số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà Võ Thị P đã nộp theo biên lai thu số 0002302 ngày 13/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành được trừ vào tiền án phí bà P phải nộp.

  6. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Tòa án nhân dân huyện Long Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Long Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bá Nhu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2024/DS-PT ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 122/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger