|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Mỹ Trúc
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Võ Thị Hồng Tươi
Ông Huỳnh Sơn Tây
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 102/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Danh Trận, sinh năm 1991 tại Kiên Giang; nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh N và bà Cà Thị M; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam X – Bộ C1; bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt.
Nhân thân:
- - Ngày 30/11/2012, Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 53/2012/HSST. Ngày 25/01/2013 đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm. Đã được xóa án tích.
- - Ngày 04/01/2024, Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 04/2024/HSST. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam X – Bộ C1.
Bị hại: Ông Huỳnh Ngọc H (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của ông Huỳnh Ngọc H: Ông Huỳnh Văn S1, sinh năm 1949; địa chỉ: xã L, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1974; địa chỉ: xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi.
- - Công ty TNHH C2; địa chỉ: Lầu B, S, C T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện hợp pháp: Ông Wu Chi C – Tổng giám đốc.
- - Công ty TNHH G; địa chỉ: 4 Q, phường A, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Minh H1 – Giám đốc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Danh Trận, không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định của Luật giao thông đường bộ.
Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 25/10/2016, T1 điều khiển xe mô tô biển số 51X6 - 4708 chở ông Huỳnh Ngọc H ngồi phía sau, lưu thông trên đường N thuộc Khu công nghiệp N, khu phố G, phường U, thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương. Khi lưu thông đến giao lộ đường D và N4 Khu công nghiệp N, Trận không quan sát để nhường đường cho các phương tiện đi đến từ bên phải nên dẫn đến phần đầu xe 51X6 – 4708 va chạm vào vị trí cảng kim loại bảo vệ lườn trái (ở vị trí giữa thùng nhiên liệu và thùng phụ tùng) xe ô tô đầu kéo biển số 50LD – 057.95 kéo theo romoc biển số 51R – 047.38 do ông Nguyễn Văn T điều khiển. Hậu quả làm ông Huỳnh Ngọc H và Danh T2 ngã xuống đường, ông H bị thương tích nặng và tử vong tại hiện trường.
Đ Công an tỉnh B đã tiếp nhận vụ việc và tiến hành các hoạt động xác minh ban đầu và chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B để xác minh, điều tra làm rõ theo thẩm quyền.
Công an phường U tiến hành tạm giữ: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe 50D – 057.95, 01 giấy kiểm định xe 50LD – 057.95, 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Văn T. Sau đó đã bàn giao các tài liệu tạm giữ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B.
Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường ngày 25/10/2016 của Đ Công an tỉnh B thể hiện: Hiện trường vụ tai nạn giao thông là ngã tư giao nhau giữa đường D và N4 trong khu công nghiệp N mở rộng, mặt đường D3 và N4 được trải nhựa bằng phẳng. Đường D và N4 có mặt đường rộng 15,50m.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 3055/GĐPY ngày 05/11/2016 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Nguyên nhân chết của nạn nhân Huỳnh Ngọc H là chấn thương sọ não, xuất huyết não, dập não.
Xe ô tô đầu kéo biển số 50LD – 057.95 do công ty TNHH C2 đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Công ty TNHH C2 cho công ty TNHH G thuê xe ô tô đầu kéo biển số 50LD – 057.95. Ngày 25/10/2016, Nguyễn Văn T (là tài xế lái xe cho công ty TNHH G) điều khiển thì xảy ra tai nạn. Ngày 28/12/2016, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 10 ngày 28/12/2016 trả lại xe ô tô đầu kéo biển số 50LD – 057.95, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe 50D – 057.95, 01 giấy đăng kiểm xe 50LD – 057.95 đại diện công ty TNHH G.
Đối với xe mô tô biển số 51X6 – 4708. Qua xác minh xác định biển số 51X6 – 4708 do ông Bùi Ngươn P (sinh năm 1967, nơi thường trú: phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Qua xác minh thì ông P không còn sinh sống tại địa phương. Danh T2 khai nhận xe 51X6 – 4708 Trận mua lại của 01 nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) với số tiền 3.800.000 đồng. Qua tra cứu thì xe 51X6 – 4708 không có số khung; số máy bị mài mòn đục phá số.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Huỳnh Văn S1 (là cha ruột của nạn nhân Huỳnh Ngọc H) không yêu cầu bị can Danh T2 phải bồi thường về phần dân sự.
Bản Cáo trạng số 110/CT-VKSTU ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Danh T2 về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
Đề nghị tuyên bố bị cáo Danh T2 phạm tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.
- + Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, điểm s khoản 1 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Danh T2 từ 03 (Ba) năm đến 04 (B) năm tù.
- + Về trách nhiệm dân sự: Các đương sự không yêu cầu bồi thường thêm nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
- + Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô 51X6 – 4708 không có số khung; số máy bị mài mòn đục phá số.
- Bị cáo Danh T2 có đơn xin xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị cáo Danh T2 có đơn xin xét xử văng mặt, Đại diện hợp pháp của bị hại – ông Huỳnh Văn S1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Quá trình điều tra, lời khai của những người này không mâu thuẫn với lời khai của bị cáo và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên. Xét thấy, việc vắng mặt của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 290, Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[3] Lời khai nhận tội của bị cáo Danh T2 trong quá trình điều tra tại Cơ quan điều tra phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:
Ngày 25/10/2016, Danh T2 (không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô biển số 51X6 - 4708 chở Huỳnh Ngọc H lưu thông trên đường N thuộc Khu công nghiệp N, khu phố G, phường U, thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương. Danh T2 không nhường đường cho phương tiện giao thông đi đến từ bên phải nên dẫn đến phần đầu xe mô tô 51X6 – 4708 do Danh T2 điều khiển va chạm vào vị trí cảng kim loại bảo vệ lườn trái (ở vị trí giữa thùng nhiên liệu và thùng phụ tùng) xe ô tô đầu kéo biển số 50LD – 057.95 kéo theo romoc biển số 51R – 047.38 do ông Nguyễn Văn T điều khiển. Hậu quả làm ông Huỳnh Ngọc H và Danh T2 ngã xuống đường, ông H bị thương tích nặng và tử vong tại hiện trường.
Hành vi nêu trên của bị cáo Danh T2 đã vi phạm vào khoản 1 Điều 24 Luật Giao thông đường bộ (Tại nơi đường giao nhau không có báo hiệu đi theo vòng xuyến, phải nhường đường cho xe đi đến từ bên phải) gây hậu quả làm một người chết nên đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
[4] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[5] Hành vi vi phạm Luật giao thông đường bộ của bị cáo là nguy hiểm đối với xã hội, xâm phạm đến quyền được bảo vệ về sức khỏe, thân thể, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm bị cáo gây ra nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
[8] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam X – Bộ C1.
[9] Mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa đối với bị cáo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Về trách nhiệm dân sự:
- Đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[11] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Tịch thu, sung vào Ngân sách nhà nước 01 xe mô tô 51X6 – 4708 không có số khung; số máy bị mài mòn đục phá số.
[12] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
Bị cáo Danh T2 phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”;
1. Về trách nhiệm hình sự:
1.1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Danh T2 03 (Ba) năm tù. Tổng hợp hình phạt 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2024/HSST ngày 04/01/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, buộc bị cáo Danh T2 phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án là 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/9/2023.
2. Về Trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm.
3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Tịch thu, sung vào Ngân sách nhà nước 01 xe mô tô 51X6 – 4708 không có số khung; số máy bị mài mòn đục phá số.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).
4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Danh T2 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Mỹ Trúc |
Bản án số 102/2024/TLST-HS ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (vụ án hình sự)
- Số bản án: 102/2024/TLST-HS
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đ 260 Danh T
