trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 122/2024/DS-PT

Ngày: 01-7-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Tranh chấp quyền sử dụng đất và Yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Phong Lan

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Cường

Ông Vũ Đức Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồ Thu Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Phương Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 và ngày 01 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 145/2023/TLPT-DS ngày 28 tháng 8 năm 2023, về việc tranh chấp “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Tranh chấp quyền sử dụng đất và Yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2023/DS-ST ngày 11 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 77/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 3 năm 2024, Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 33/TB-TA ngày 17 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 73/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Viết L, sinh năm 1964

Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1967

Cùng địa chỉ: Tổ B, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị L1: Ông Nguyễn Viết L, sinh năm 1964; Địa chỉ: Tổ B, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Theo hợp đồng ủy quyền ngày 01/8/2022.

2

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Viết L: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1973; Địa chỉ: Khu phố G, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 23/3/2023.

- Bị đơn: Ông Đào Thanh B, sinh năm 1979

Bà Cao Thị M, sinh năm 1981

Địa chỉ: khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (địa chỉ trong giao dịch hợp đồng đặt cọc)

Địa chỉ: Số I, ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Đào Duy B1, sinh năm 1988

Địa chỉ: Khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Bà Lâm Thị H1, sinh năm 1964

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Lâm Thị H1: Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Theo hợp đồng ủy quyền ngày 31/3/2023.

Người kháng cáo: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị H1.

Tại phiên tòa, có mặt ông Nguyễn Viết L, ông Nguyễn Văn H, bà Lâm Thị H1, ông Nguyễn Ngọc S; vắng mặt ông Đào Thanh B, bà Cao Thị M, ông Đào Duy B1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Trong đơn khởi kiện ngày 05/4/2018 cũng như các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn vợ chồng ông Nguyễn Viết L bà Nguyễn Thị L1, bà L1 ủy quyền cho ông L và ông L ủy quyền cho ông Nguyễn Văn H trình bày:

Ngày 06/7/2014, ông Nguyễn Viết L ký Hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Đào Thanh B, bà Cao Thị M đối với diện tích đất 2.720m² thuộc thửa đất số 444, tờ bản đồ số 01 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 322125 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 20/9/2005 đứng tên ông Đào Thành C, cập nhật sang tên bà Lâm Thị Ẩ, nay là thửa đất số 92, tờ bản đồ số 24 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 940902 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 05/01/2016 đứng tên ông Đào Thanh B đo đạc hiện trạng 2.263m². Giá chuyển nhượng diện tích đất trên là 750.000.000 đồng. Khi thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì giữa các bên không lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà chỉ ký Hợp đồng đặt cọc ngày 06/7/2014. Khi ký hợp đồng đặt cọc ngày 06/7/2014 thì ông Đào Thanh B chưa có Giấy tờ đất đứng tên ông Đào Thanh B nên không thực hiện việc công chứng, chứng thực được. Sau khi ký Hợp đồng đặt cọc ngày 06/7/2014 thì ông L đã giao tiền đặt cọc cho ông Đào Thanh B, bà Cao Thị M số tiền 600.000.000 đồng. Sau

3

đó thì ông Đào Thanh B, bà Cao Thị M ứng thêm tiền vào các ngày như sau: Ngày 25/01/2015 ông Đào Thanh B, bà Cao Thị M ứng số tiền 25.000.000 đồng. Ngày 05/02/2015 ông Đào Thanh B, bà Cao Thị M ứng số tiền 25.000.000 đồng. Ngày 15/4/2015 ông Đào Thanh B, bà Cao Thị M ứng số tiền 5.000.000 đồng. Ngày 24/10/2015 ông Đào Thanh B, bà Cao Thị M ứng số tiền 10.000.000 đồng. Ngày 03/02/2016 ông Đào Thanh B, bà Cao Thị M ứng số tiền 55.000.000 đồng. Những ngày khác ông L đã cho ông Đào Thanh B, bà Cao Thị M ứng thêm số tiền 30.000.000 đồng có giấy tờ. Hiện nay ông L đã thanh toán cho ông Đào Thanh B, bà Cao Thị M số tiền 750.000.000 đồng. Năm 2015 thì ông Đào Thanh B, bà Cao Thị M tiến hành bàn giao đất cho ông L, nhưng khi ông L xem đất thì thấy bà Lâm Thị H1 trồng thanh long trên đất, ông L hỏi tại sao bà Lâm Thị H1 trồng thanh long trên đất thì được ông Đào Thanh B, bà Cao Thị M giải thích là bà H1 trồng thanh long trên đất là sai, lừa dối và đưa ra các bằng chứng nên chúng tôi yên tâm. Chúng tôi có bàn bạc, thỏa thuận với ông Đào Thanh B, bà Cao Thị M về việc giao trả hiện trạng đất để chúng tôi quản lý, sử dụng chứ chúng tôi không giải quyết, thỏa thuận với bà Lâm Thị H1. Sau khi chúng tôi bàn bạc, thỏa thuận với ông Đào Thanh B, bà Cao Thị M thì được ông B, bà M nói là bà Lâm Thị H1 không có quyền lợi nào trên đất. Tất cả các tài sản trên hiện trạng đất tranh chấp là của bà Lâm Thị H1. Nay, chúng tôi khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

  • - Yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chúng tôi và ông Đào Thanh B, bà Cao Thị M trên cơ sở Hợp đồng đặt cọc ngày 06/7/2014.
  • - Yêu cầu ông Đào Thanh B, bà Cao Thị M1 giao quyền sử dụng đất số 92, tờ bản đồ số 24 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC940902 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 05/01/2016 đứng tên ông Đào Thanh B đo đạc hiện trạng 2.263m² cho vợ chồng tôi quản lý, sử dụng.
  • - Yêu cầu bà Lâm Thị H1 di dời 33 trụ rào, 87m lưới B40 kích thước 0,14m x 0,14m x 1,9m để trả lại hiện trạng đất.

gì.

* Bị đơn ông Ngô Đào Thanh B2 và bà Cao Thị M vắng mặt không trình bày

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đồng thời là người khởi kiện độc lập bà Lâm Thị H1 ủy quyền cho ông Nguyễn Ngọc S trình bày:

Ông Đào Thành C là chồng của bà Lâm Thị H1 đã ly hôn ngày 03/4/2008, hiện nay ông Đào Thành C đã chết. Ông Đào Thanh B2 là con ruột của ông Đào Thành C. Ông Đào Thành C có một số tài sản có giá trị đều tặng cho ông Đào Thanh B2 nhưng được lập dưới hình thức mua bán. Riêng thửa ruộng số 444, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.720m² tọa lạc tại thôn T, xã H, huyện H đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 322125 ngày 20/9/2005 cấp đứng tên Đào Thành C thì ông Đào Thành C nói sẽ làm thủ tục tặng cho cho bà nhưng vì đất ruộng lúa và bà không phải là người sản xuất nông nghiệp nên không đủ điều kiện để đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà nói nội dung trên cho ông Đào Thành C và nhờ bà Lâm Thị Ẩ (là chị ruột của bà) viết Tờ giao quyền sử dụng

4

đất cho vợ ngày 30/8/2006 và đưa cho ông Đào Thành C ký tên, lăn tay. Sau đó bà nhờ bà Lâm Thị Â đứng tên giùm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu ông Đào Thành Công 1 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Ẩ, nhưng lúc này ông C đang chạy thận tại bệnh viện C1 nên ông C có nói với bà H1 là cứ để tên ông C đi vì đã có Tờ giao quyền sử dụng đất cho vợ rồi, bà ký tên thay cho ông Đào Thành C sau đó làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất cho bà A. Bà và ông Đào Thành C ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 27/2008/QÐST- HNGĐ ngày 03/4/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết. Theo quyết định ly hôn này ông Đào Thành C không đưa ra yêu cầu nào về tranh chấp tài sản đã tặng cho bà là quyền sử dụng diện tích đất 2.720m², cũng trong năm 2008 ông C chết. Sau khi ông C chết thì ông Đào Thanh B2 là con ruột của ông C làm đơn khiếu nại, tố cáo cho rằng bà chiếm đoạt tài sản của ông C, sự việc tranh chấp xảy ra cho đến nay. Mặc dù, Tờ giao quyền sử dụng đất cho vợ ngày 30/8/2006 chưa đúng trình tự pháp lý để sang tên nhưng hiện nay ông C đã chết nên đây được xem là hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và bà H1 có quyền sử dụng đối với diện tích đất ruộng trên. Ngày 09/10/2014, Ủy ban nhân dân huyện H ra Quyết định số 9617/QĐ- UBND về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 322125 ngày 20/9/2005 đã sang tên cho bà Lâm Thị Ẩ, như vậy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 322125 ngày 20/9/2005 đứng tên ông Đào Thành C vẫn còn giá trị pháp luật. Bà đã quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích đất 2.720m² đo đạc hiện trang 2.263m² và bà đã trồng thanh long được 308 trụ, 33 trụ rào. Bà không biết lý do gì thì ông Đào Thanh B2 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 92, tờ bản đồ số 24 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC940902 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 05/01/2016 đứng tên ông Đào Thanh B2 trong khi Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận đang thụ lý giải quyết nên bà rút đơn khởi kiện và làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, sau đó biết được ông Đào Thanh B2 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do được phân chia di sản thừa kế nên tôi rút và khởi kiện độc lập trong vụ án ông Nguyễn Viết L khởi kiện ông Đào Thanh B2. Bà không đồng ý theo yêu cầu của ông L vì Giấy mua bán đất của ông L với ông B2 là vô hiệu, bà đã sử dụng đất 16 năm nay nhưng khi ông L mua đất không có hỏi thăm xã H để biết như thế nào, chồng bà là ông Đào Thành C đã giao đất cho bà sử dụng từ năm 2006 theo “Tờ giao quyền sử dụng đất cho vợ ngày 30/8/2006”. Bà không biết địa chỉ của ông Đào Duy B1 hiện nay ở đâu vì hiện nay ông Đào Duy B1 đang ở Nhật Bản. Nay bà khởi kiện độc lập, yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • - Hủy văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 08/9/2015 giữa ông Đào Thanh B2 và ông Đào Duy B1 đã được công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng 00868, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD.
  • - Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 2.720m² thuộc thửa đất số 444, tờ bản đồ số 01, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 322125 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 20/9/2005 đứng tên ông Đào Thành C, cập nhật sang tên bà Lâm Thị Ẩ. Nay là thửa đất số 92, tờ bản đồ số 24 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC940902 do Ủy ban nhân dân huyện H

5

cấp ngày 05/01/2016 đứng tên ông Đào Thanh B2 đo đạc hiện trạng 2.263m² cho bà Lâm Thị H1.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2023/DS-ST ngày 11 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã quyết định:

1. Áp dụng: Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm c Khoản 1 Điều 39, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 và điểm b Khoản 1 Điều 238; Điểm h Khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 121, Điều 122, Điều 124, Điều 127, Điều 128, Điều 137, Điều 388, Điều 389, Điều 401, Điều 402, Điều 410, Điều 412, Điều 688, Điều 689, Điều 691, Điều 697, Điều 698, Điều 699, Điều 700, Điều 701, Điều 702 Bộ luật dân sự năm 2005. Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015. Điều 4, Điều 5, Điều 166, Điều 167, Điều 168, Điều 169, Điều 179, Điều 188 Luật đất đai. Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

2.Tuyên xử:

  • - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Nguyễn Viết L và bà Nguyễn Thị L1 đối với ông Đào Thanh B2 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập ngày 06/7/2014 giữa vợ chồng ông Đào Thanh B2 và bà Cao Thị M với vợ chồng ông Nguyễn Viết L và bà Nguyễn Thị L1 đối với thửa đất số 92 diện tích 2.435,6m² đo đạc thực tế là 2.263m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC3940902 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 05/01/2016 đứng tên Đào Thanh B2. Vợ chồng ông Nguyễn Viết L và bà Nguyễn Thị L1 được quyền sử dụng thửa đất số 92 diện tích 2.435,6m² đo đạc thực tế là 2.263m² nêu trên (có sơ đồ vị trí kèm theo).
  • - Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Viết L và bà Nguyễn Thị L1 hỗ trợ cho bà Lâm Thị H1 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) tiền di dời 308 trụ bê tông xi măng, 87m lưới B40 có kích thước 0,14m x 0,14m x 1,9m và 33 trụ rào trên đất đo đạc hiện trạng 2.263m².
  • “Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác".
  • - Buộc bà Lâm Thị H1 di dời 33 trụ bê tông xi măng làm hàng rào và 87m lưới B40 có kích thước 0,14m x 0,14m x 1,9m để giao thửa đất số 92 diện tích 2.435,6m² đo đạc thực tế là 2.263m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC3940902 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 05/01/2016 đứng tên Đào Thanh B2 cho vợ chồng ông Nguyễn Viết L và bà Nguyễn Thị L1.

6

  • - Vợ chồng ông Nguyễn Viết L và bà Nguyễn Thị L1, tự liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
  • - Bác yêu cầu của bà Lâm Thị H1 về việc công nhận diện tích đất 2.720m² thuộc thửa đất số 444, tờ bản đồ số 01, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 322125 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 20/9/2005 đứng tên ông Đào Thành C. Nay là thửa đất số 92, tờ bản đồ số 24 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC940902 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 05/01/2016 đứng tên ông Đào Thanh B2 đo đạc hiện trạng là 2.263m² cho bà Lâm Thị H1.
  • - Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Lâm Thị H1 “Hủy văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 08/9/2015 giữa ông Đào Thanh B2 và ông Đào Duy B1 đã được công chứng tại Văn phòng C2, số công chứng 00868, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD”. Người khởi kiện có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19 tháng 5 năm 2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị H1 có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập công nhận quyền sử dụng thửa đất số 92, tờ bản đồ số 24 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC940902 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 05/01/2016 đứng tên ông Đào Thanh B2 đo đạc hiện trạng 2.263m² cho bà Lâm Thị H1; Hủy văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 08/9/2015 giữa ông Đào Thanh B2 và ông Đào Duy B1; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Viết L.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như trên.
  • - Nguyên đơn yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • - Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa.

Về nội dung: Xét kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không có cơ sở chấp nhận. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra

7

tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Ngày 11/5/2023 Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xét xử sơ thẩm. Ngày 19/5/2023, Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc nhận được đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị H1 là còn trong thời hạn kháng cáo và đúng thủ tục quy định tại các Điều 271, Điều 272, Điều 273 và Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Bị đơn ông Đào Thanh B2 và bà Cao Thị M; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đào Duy B1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, Tòa án căn cứ vào khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Trong vụ án này, nguyên đơn ông Nguyễn Viết L, bà Nguyễn Thị L1 khởi kiện bị đơn ông Đào Thanh B2, bà Cao Thị M có địa chỉ tại khu phố A, phường P, thành phố P và yêu cầu Tòa án công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông L và bà L1 với ông B2 và bà M trên cơ sở Hợp đồng đặt cọc ngày 06/7/2014; yêu cầu ông B2 và bà M phải giao quyền sử dụng thửa đất số 92 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC3940902 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 05/01/2016 đứng tên Đào Thanh B2 cho vợ chồng ông L, bà L1 quản lý, sử dụng; Yêu cầu bà Lâm Thị H1 là người đang quản lý, sử dụng thửa đất số 92 phải di dời tài sản để trả lại đất.

[4] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị H1 có yêu cầu độc lập, yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng thửa đất số 92 nêu trên cho bà Lâm Thị H1; yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 08/9/2015 giữa ông Đào Thanh B2 và ông Đào Duy B1;

[5] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng như sau:

Ngày 12/4/2023 Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc ban hành Thông báo hoãn phiên tòa số 07/TB-HPT, ấn định thời gian mở lại phiên tòa xét xử vụ án vào lúc 08 giờ ngày 11/5/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc. Tuy nhiên, thông báo này không được Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc tống đạt trực tiếp hoặc niêm yết cho bị đơn ông Đào Duy B3 và bà Cao Thị M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đào Duy B1 theo quy định tại Điều 177 và Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sẽ không biết được thời gian và địa điểm xét xử vụ án để thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc không tống đạt hoặc niêm yết các văn bản tố tụng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đào Duy B1; việc tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn của Tòa án Hàm Thuận B4 có nhiều sai sót, không đúng với các văn bản tố tụng có trong hồ sơ vụ án, cụ thể như:

8

  • - Thông báo về việc thụ lý vụ án số 46/TB-TLVA ngày 26/4/2018, có thực hiện thủ tục niêm yết cho bị đơn vào năm 2022, tuy nhiên sửa thành năm 2018;
  • - Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án số 30/2022/QĐST-DS ngày 01/12/2022, nhưng khi niêm yết lại là quyết định khác (Quyết định số 23 ngày 01/8/2022);
  • - Thông báo kết quả phiên họp số 02/TB-TA ngày 02/02/2023, nhưng khi niêm yết lại là Thông báo khác (Thông báo kết quả số 02 ngày 23/8/2022);
  • - Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXXST-DS ngày 02/2/2023, nhưng trong biên bản ghi nhận không tống đạt được lại ghi quyết định khác (Quyết định số 30 ngày 02/11/2022);
  • - Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2022/QĐST-DS ngày 28/02/2023, nhưng khi niêm yết lại ghi quyết định khác (Quyết định số 4 ngày 02 tháng 12 năm 2022 và số 05 ngày 02/02/2023).

[6] Ngày 11/5/2023 Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc tiến hành xét xử vụ án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Viết L và bà Nguyễn Thị L1 đối với ông Đào Thanh B2 về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập ngày 06/7/2014 giữa nguyên đơn và bị đơn đối với thửa đất số 92 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC3940902 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 05/01/2016 đứng tên Đào Thanh B2. Vợ chồng nguyên đơn được quyền sử dụng thửa đất số 92 nêu trên. Hơn nữa, trong vụ án còn có yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị H1 yêu cầu công nhận thửa đất số 92 nêu trên cho bà Lâm Thị H1.

Từ những nhận định trên, xét thấy Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc không tống đạt, tống đạt không đúng cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án theo quy định tại Chương X (cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng) của Bộ luật Tố tụng dân sự, kết quả xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự và giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 3 Điều 308 và khoản 2 Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự tuyên hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

[7] Do bản án bị hủy do có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng do đó Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét về nội dung vụ án.

[8] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm là chưa phù hợp nên không được chấp nhận.

[9] Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 28/5/2018 Tòa án nhân dân Hàm Thuận Bắc có tiến hành xác minh thông tin nơi cư trú của bị đơn tại Công an

9

phường P cho biết: ông Đào Duy B3 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu phố B, phường P, thành phố P (nay được tách thành khu phố A, phường P), hiện tại không xác định ông B3 hiện đang làm gì, ở đâu. Và ngày 16/12/2020 xác minh tại Công an xã L, huyện C, tỉnh Long An cho biết: ông B3 có hộ khẩu thường trú tại số I, ấp C, xã L, chủ hộ Lê Thị D, tuy nhiên ông B3 và bà M không có mặt tại địa phương, làm ăn sinh sống ở đâu không rõ. Do đó khi giải quyết lại vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cần lưu ý nếu không có địa chỉ nào khác của bị đơn thì căn cứ vào địa chỉ của bị đơn được ghi trong Hợp đồng đặt cọc ngày 06/7/2014 là khu phố A, phường P, thành phố P để giải quyết vụ án theo thủ tục chung theo hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cần xác minh cụ thể về thông tin nơi cư trú để tống đạt hoặc niêm yết các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

[10] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị hủy, nên người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị H1 kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ: Khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị H1 về việc đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lâm Thị H1 yêu cầu công nhận thửa đất số 92, tờ bản đồ số 24 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC940902 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 05/01/2016 đứng tên ông Đào Thanh B2 đo đạc hiện trạng là 2.263m² cho bà Lâm Thị H1 và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Viết L.

[2] Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2023/DS-ST ngày 11 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

[3] Về án phí và chi phí tố tụng khác:

Người kháng cáo bà Lâm Thị H1 không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.

Hoàn trả cho bà Lâm Thị H1 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014688 ngày 29/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Nghĩa vụ chịu án phí và chi phí tố tụng khác được xác định lại khi vụ án được giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

10

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh B.Thuận;
  • - TAND huyện HTB;
  • - Chi cục THADS HTB;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hs vụ án, Tổ HCTP; Tòa DS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Phong Lan

11

12

13

14

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2024/DS-PT ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 122/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Tranh chấp quyền sử dụng đất và Yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 01/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Viết L - Đào Thanh B "Tranh chấp quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất". Huỷ Bản án sơ thẩm để xét xử lại.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger