|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 122/2025/HS-ST
Ngày: 20-6-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Dương Văn Toản
- Ông Nguyễn Đức Hiền
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Duy Tuyên- Thư ký Toà án nhân dân thị xã Việt Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên tòa: Ông Ong Văn Chúc- Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên xét xử sơ thẩm Cng khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 116/2025/TLST- HS ngày 02 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
Lò Văn M, sinh năm 1995; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Bản Hồng Sạt, xã Sam Mứn, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông: Lò Văn Lún; Con bà: Vì Thị Diên; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ và con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/3/2025 đến nay; Hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam Cng an tỉnh Bắc Giang (có mặt).
Lò Văn H, sinh năm 1991; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký thường trú: Bản Ta Lét 1, xã Hẹ Muông, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (đã xoá đăng ký thường trú do vắng mặt tại địa phương quá 12 tháng); Nơi ở: Tổ dân phố H Mai 3, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ họ vấn: 12/12; Con ông: Lò Văn Chiến; Con bà: Lò Thị S; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ và con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ 06/3/2025 đến nay; Hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam Cng an tỉnh Bắc Giang (có mặt).
* Bị hại:
1
Anh Cứ A L, sinh năm 2003 (vắng mặt) và chị Hàng Thị C, sinh năm 2004 (vắng mặt)
Đều cư trú: Bản Ma Sao Phìn Cao, xã Khun Há, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
Anh Phan Văn Q, sinh năm 2004 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn Núi Lều, xã Giáp Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Trọng H, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ dân phố My Điền 1, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Anh Lưu M H, sinh năm 1997 (vắng mặt)
Nơi ĐKHKTT: Thôn 1 Thái Thủy, xã Thái Sơn, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.
Hiện ở: Tổ dân phố Trung Đồng, phường Vân Trung, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Bà Lò Thị S, sinh năm 1968 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Bản Ta Lét 1, xã Hẹ Muông, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Lò Văn M và bị cáo Lò Văn H là bạn của nhau, thuê phòng ở trọ cùng nhau tại nhà trọ của bà Đỗ Thị Lý, sinh năm 1963, ở tổ dân phố H Mai 3, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Do thiếu tiền chi tiêu, M và H đã rủ và cùng nhau trộm cắp tài sản của người khác. Trong các ngày 04/3/2025 và 05/3/2025, H đã cùng M thực hiện liên tiếp hai vụ trộm cắp tài sản của người khác trên địa bàn thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 04/3/2025, trong lúc đang ở phòng trọ, M rủ H đi đến khu nhà trọ ở phường Vân Trung, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang trộm cắp tài sản của người ở trọ, H đồng ý. Khoảng 10 giờ cùng ngày, M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, không đeo biển số, có số khung RLHJA3935PY009000, số máy JA70E-0011504 (viết tắt là xe mô tô Honda Wave không đeo biển số) chở H ngồi sau tới khu vực nhà trọ của anh Dương Văn M, sinh năm 1980, ở tổ dân phố Vân Cốc 2, phường Vân Trung, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, M đỗ xe lại để vào khu nhà trọ trộm cắp tài sản. H ngồi trên xe mô tô đỗ ở ngoài đường cảnh giới, M đi bộ tới nhà trọ, thấy cổng không khóa, xung quanh không có người. M đi vào trong nhà trọ rồi đi lên tầng 2, phát hiện cửa phòng trọ số A7 của anh Cứ A L, sinh năm 2003 cùng vợ là chị Hàng Thị C- sinh năm 2004, trú tại Bản Nậm Pha, xã Khun há, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu đang ở trọ được khóa bên ngoài bằng khóa số nhưng loại khóa nhỏ. M dùng cả hai tay cầm khóa giật mạnh, hướng từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài liên tục 02 lần thì móc khoá bật mở. M mở cửa, đi vào trong phòng trọ lục tìm tài sản. M lần lượt đi tới tủ quần áo lấy con lợn
2
bằng đất nung, màu đỏ, kích thước khoảng 15x15x18)cm, bên trong đựng tiền tiết kiệm của anh L, chị C đem đặt lên bàn, dùng con dao bằng kim loại ở phòng trọ cậy vỡ phần đút tiền rồi dùng tay lấy trộm được bên trong tổng cộng 550.000 đồng (gồm các tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 50.000 đồng, 10.000 đồng; 20. 000 đồng, 1.000 đồng, 2.000 đồng) cất giấu vòa túi áo đang mặc. Tiếp theo, M đi đến đầu giường ngủ lấy trộm 01 điện thoại di dộng Iphone 6-16GB, màu vàng đút vào túi quần, rồi đi ra bàn làm việc lấy trộm 01 máy tính Laptop màu đen, nhãn hiệu Dell E7250, ram 8GB, ổ cứng 25GB cùng dây sạc máy tính (đều là tài sản riêng của anh L) cất giấu vào trong áo đang mặc. Sau đó, M khóa cửa phòng trọ lại như ban đầu, bỏ đi ra khỏi nhà trọ, đi đến đến chỗ H đang đứng đợi. M đưa máy tính Laptop cho H cầm rồi điều khiển xe mô tô chở H bỏ đi tìm nơi tiêu thụ tài sản trộm cắp. Khi đi đến quán sửa chữa, thu mua máy tính HFC Computer, ở Đội 2, tổ dân phố Trung Đồng, Phường Vân Trung do anh Lưu M H, sinh năm 1997, trú tại thôn 1 Thái Thuỷ, xã Thái sơn, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang làm chủ, M đỗ xe mô tô lại đứng ngoài đợi. H cầm theo máy tính Laptop cùng dây sạc vừa trộm cắp được vào trong quán gặp anh H nói dối là tài sản của mình rồi bán cho anh H lấy 1.000.000 đồng. H giữ lại 500.000 đồng, đưa cho M cầm 500.000 đồng tiền bán máy tính trộm cắp rồi cùng nhau điều khiển xe về phòng trọ. Khi về đến phòng trọ, M thông báo cho H biết ngoài lấy trộm được máy tính, còn lấy trộm được số tiền mặt 550.000 đồng để trong con lợn đất nung cùng điện thoại di động Iphone 6. Đến chiều tối cùng ngày 04/3/2025, M điều khiển xe mô tô cùng H đến quán mua bán điện thoại di động của anh Nguyễn Trọng H, sinh năm 1983, ở tổ dân phố My Điền 1, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang bán điện thoại di động trộm cắp. H đứng ngoài cửa quán đợi, M cầm điện thoại di động Iphone 6 trộm cắp được vào trong quán, nói dối là tài sản của mình rồi bán cho anh H lấy 50.000 đồng và tự quản lý số tiền này. Sau đó, anh H đã bán lại điện thoại di động Iphone 6 mua của H cho người không biết họ tên, địa chỉ. Toàn bộ tiền bán tài sản trộm cắp và tiền trộm cắp được các bị cáo chi tiêu cá nhân hết.
Vụ thứ hai: Khoảng 10 giờ ngày 05/3/2025, tại phòng trọ, M bảo H đưa xe mô tô cho M mượn để đi trộm cắp tài sản, H đồng ý và đưa xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave không đeo biển số cho M. Sau đó, M bảo một người thanh niên mới quen biết ngoài xã hội vừa đến phòng trọ ngồi chơi, cả hai khai chỉ biết tên là Nguyễn Văn Mạnh, còn năm sinh, địa chỉ ở đâu không biết đi cùng M, mục đích đi trộm cắp tài sản nhưng không nói cho Mạnh biết. Người thanh niên tên Mạnh điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave không đeo biển số chở M ngồi sau đi theo chỉ dẫn của M. Khoảng 11 giờ cùng ngày, người đàn ông tên Mạnh điều khiển xe tới khu vực đầu ngõ đi vào nhà trọ của anh Dương Ngô Tuyển- sinh năm 1978 ở tổ dân phố Vân Cốc 2, phường Vân Trung, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, thì M bảo đỗ xe lại, đứng đợi để M đi có việc. M đi bộ tới nhà trọ của anh Dương Ngô Tuyển để trộm cắp tài sản, nhưng không nói cho Mạnh biết. M thấy nhà trọ không khóa cổng, xung quanh không có người, M đi bộ vào trong nhà trọ, tìm phòng trọ nào có khóa dễ mở thì mở khóa trộm cắp tài sản bên trong phòng. M đi đến phòng trọ số 02 của anh Phan Văn Q, sinh
3
năm 2004, trú tại thôn Núi Lều, xa Giáp Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đang thuê trọ, thấy khóa cửa bằng khóa bấm, loại khóa nhỏ. M cầm hai tay vào ổ khóa giật mạnh liên tiếp từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài khoảng 02 lần thì mở được khóa. M mở cửa đi vào trong phòng trọ, lấy trộm được của anh Q: 01 điện thoại di động Oppo A5- 2020 màu đen để tại đầu giường ngủ và 01 máy tính Laptop nhãn hiệu Dell Vostro- ram 3GB, màu đen cùng dây sạc để ở dưới nền nhà cạnh giường ngủ rồi cất giấu vào trong người. Sau đó, M khóa của phòng trọ lại, bỏ đi khỏi nhà trị, đi đến chỗ Mạnh đợi. Tiếp đó, M bảo Mạnh điều khiển xe mô tô chở M về phòng trọ của M. Khi về đến phòng trọ, Mạnh đứng ngoài phòng trọ, M đem toàn bộ tài sản trộm cắp được vào trong phòng trọ gặp H, nói cho H biết và bảo đi bán cùng. H, M đem theo tài sản trộm cắp bảo Mạnh điều khiển xe mô tô chở cả hai đi theo chỉ dẫn của H. Khi đến quán sửa chữa, thu mua máy tính HFC Computer, ở Đội 2, tổ dân phố Trung Đồng, Phường Vân Trung của anh Lưu M H nêu trên, người thanh niên tên Mạnh tự bỏ đi khỏi quán, M đứng bên ngoài cửa quán đợi, còn H đem theo máy tính Laptop trộm cắp của anh Q vào trong quán để bán. Tại đây, anh H nghi ngờ tài sản H đem đến bán là trộm cắp của người khác nên điện báo Cng an phường Vân Trung, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đến quán để kiểm tra. Cng an phường Vân Trung đến quán của anh H kiểm tra và đưa M, H về trụ sở Cng an phường Vân Trung để làm việc. Lúc này, M, H đã đầu thú khai nhận thực hiện hai vụ trộm cắp tài sản nêu trên đồng thời giao nộp tài sản trộm cắp, trong đó: M, H đã giao nộp 01 điện thoại Oppo A5-2020, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, không biển số, số khung RLHJA3935PY009000, số máy JA70E-0011504; H giao nộp 01 điện thoại Oppo F7, 01 máy tính Laptop nhãn hiệu Dell Vostro- ram 3GB, màu đen cùng dây sạc.
Cùng ngày 05/3/2025, Cng an phường Vân Trung thu giữ của anh H: 01 Laptop nhãn hiệu Dell E7250, màu đen, ram 8GB, ổ cứng 25GB cùng dây sạc máy tính đã mua từ H vào ngày 04/3/2025. Cng an phường Vân Trung tiến hành kiểm tra việc sử dụng chất ma túy của M, H bằng que test, kết quả cả hai dương tính với chất ma tuý Heroine. Sau đó, Cng an phường Vân Trung đã bàn giao H, M cùng vật chứng, tài liệu có liên quan hành vi phạm tội đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Cng an tỉnh Bắc Giang để điều tra theo thẩm quyền.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Cng an tỉnh Bắc Giang tiến hành khám xét nơi ở của H, M tại nhà trọ ở tổ dân phố H Mai 3, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, thu giữ được : 01 biển số xe mô tô có số 27N1-140.34; tiến hành khám nghiệm hiện trường tại phòng số A7 của anh Cứ A L và trọ số 02 của anh Phan Văn Q nêu trên, xác định ổ khóa của hai phòng trọ không bị hư hỏng gì và thu giữ 01 con dao bằng kim loại dài 29,4cm do anh L giao nộp.
Cơ quan điều tra đã cho Lò Văn M thực nghiệm điều tra lại hành vi dùng tay giật mở ổ khóa phòng trọ của anh L và anh Q nêu trên; kết quả M đã tự thực nghiệm được hành vi dùng tay giật mở được hai ổ khóa của hai phòng trọ như nêu trên. Cơ quan điều tra cho M nhận dạng con dao thu giữ của anh L, kết quả M xác định là con dao M dùng cậy phá con lợn bằng đất nung để lấy trộm tiền; cho anh H nhận dạng
4
người bán điện thoại di động Iphone 6, trong đó có ảnh của M, kết quả anh H đã nhận dạng ra M.
Cơ quan điều tra kiểm tra điện thoại di động, máy tính Laptop thu giữ, xác định điện thoại Oppo A5-2020, máy tính Laptop nhãn hiệu Dell Vostro- ram 3GB có thông tin của anh Q; máy tính Laptop nhãn hiệu Dell E7250 có thông tin của anh L.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 30 ngày 07/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang định giá, kết luận: Tài sản bằng đồ vật của anh L bị trộm cắp và hủy hoại ngày 04/3/2025 có tổng trị giá: 5.170.000 đồng (trong đó: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6- 16GB, màu vàng trị giá 400.000 đồng, 01 Laptop màu đen, nhãn hiệu DELL E7250, Ram 8GB, ổ cứng 25GB trị giá 4.500.000 đồng, 01 dây sạc Laptop trị giá 200.000 đồng 01 con lợn bằng đất nung, sơn màu đỏ, kích thước (15x15x18)cm trị giá 70.000 đồng). Tài sản của anh Q bị trộm cắp ngày 05/3/2025 có tổng trị giá 3.000.000 đồng, (trong đó: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5- 2020, màu đen trị giá 800.000 đồng, 01 Laptop nhãn hiệu DELL VOSTROL màu đen, ram 3GB trị giá 2.000.000 đồng, 01 dây sạc Laptop trị giá 200.000 đồng.
Về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Lò Văn H, Lò Văn M, cả hai khai sáng ngày 04/3/2025: H tự đến chân cầu Như Nguyệt thuộc địa phận tổ dân phố Nam Ngạn, phường Quang Châu, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang mua ma tuý Heroine của người đàn ông không biết lài ai, ở đâu rồi sử dụng hết tại địa điểm mua. M tự đến khu vực bờ sông thuộc địa phận tổ dân phố Nam Ngạn, phường Quang Châu, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang ma tuý Heroine của người đàn ông không biết lài ai, ở đâu rồi sử dụng hết tại địa điểm mua. Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra làm rõ và đề nghị xử lý người bán ma túy cho các bị cáo. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của hai bị cáo Cơ quan điều tra Cng an tỉnh Bắc Giang đã chuyển hồ sơ đến Cng an phường Quang Châu để xử phạt hành chính theo pháp luật.
Hành vi hủy hoại con lợn đất nung khi trộm cắp tài sản, bị cáo M không có tiền án, tiền sự gì về hành vi cố ý làm hư hỏng, hủy hoại tài sản, trị giá tài sản không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên không cấu thành tội “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản”. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đã có văn bản đề nghị Cơ quan điều tra làm thủ tục xử phạt hành chính về hành vi trên của M theo pháp luật.
Tại Bản cáo trạng số 116/CT-VKS ngày 01/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố các bị cáo Lò Văn M, Lò Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Lò Văn M, Lò Văn H. Sau khi phân tích tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử, xử:
Vê trách nhiệm hình sự:
5
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Lò Văn M từ 01 năm 02 tháng tù đến 01 năm 4 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 06/3/2025.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Lò Văn H từ 11 tháng tù đến 01 năm 01 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 06/3/2025.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm b, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo H: chiếc điện thoại Oppo F7 màu xanh có số imei: 869308035825576, lắp sim1 số 0774313696 và sim 2 số 0364736476
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Bị cáo Lò Văn M và Lò Văn H đều là dân tộc thiểu số sinh sống thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm
* Tại cơ quan điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Lò Văn M, Lò Văn H thành khẩn khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Cng an tỉnh Bắc Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa Bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, tại giai đoạn điều tra đã có lời khai nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ là phù hợp với quy định tại Điều 292; Điều 305 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về tội danh: Lời khai của các bị cáo Lò Văn M, Lò Văn H tại phiên tòa hôm nay phù hợp với diễn biến hành vi phạm tội, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản người phạm tội ra đầu thú, vật chứng thu giữ và kết
6
quả định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Việt Yên, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 04/3/2025 và 05/3/2025, H đã cùng M thực hiện liên tiếp hai vụ trộm cắp tài sản của người khác trên địa bàn thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 04/3/2025, tại nhà trọ của anh Dương Văn M, sinh năm 1980, ở tổ dân phố Vân Cốc 2, phường Vân Trung, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, H đứng ngoài cổng cảnh giới, M đi vào trong nhà trọ để trộm cắp tài sản. Sau đó, M mở cửa phòng trọ số 2 của vợ chồng anh Cứ A L, chị H Thị C rồi trộm cắp được: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6- 16GB, màu vàng trị giá 400.000 đồng, 01 Laptop màu đen, nhãn hiệu DELL E7250, Ram 8GB, ổ cứng 25GB trị giá 4.500.000 đồng, 01 dây sạc Laptop trị giá 200.000 đồng và 550.000 đồng để trong con lợn đất nung. Tổng trị giá tài sản trộm cắp được của vợ chồng anh L, chị C là 5.650.000 đồng. Ngoài ra, M khi trộm cắp tài sản M còn làm hủy hoại 01 con lợn đất nung trị giá 70.000 đồng.
Vụ thứ hai: Sáng ngày 05/3/2025, H biết rõ và cho M mượn xe mô tô của H làm phương tiện đi trộm cắp tài sản. Khoảng 11 giờ cùng ngày, M đi xe mô tô của H đến nhà trọ của anh Dương Ngô Tuyển – sinh năm 1978 ở tổ dân phố Vân Cốc 2, phường Vân Trung, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang rồi mở của phòng trọ số 02 của anh Phan Văn Q để trộm cắp tài sản. M đã trộm cắp được của anh Q: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5- 2020, màu đen trị giá 800.000 đồng, 01 Laptop nhãn hiệu DELL VOSTROL màu đen, ram 3GB trị giá 2.000.000 đồng, 01 dây sạc Laptop trị giá 200.000 đồng. Tổng trị giá tài sản trộm cắp là 3.000.000 đồng. Sau đó, M thông báo cho H biết những tài sản trộm cắp được rồi cùng H mang đi bán. Khi cả hai bị cáo mang tài sản trộm cắp đến tổ dân phố Trung Đồng, Phường Vân Trung bán cho người khác thì bị Cng an phát hiện nên cả hai đầu thú và giao nộp tài sản trộm cắp còn lại để trả bị hại.
Tổng trị giá tài sản các bị cáo trộm cắp được của các bị hại trong hai vụ là 8.650.000 đồng.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo M, H là lợi dụng sơ hở của bị hại có hành vi lén lút để thực hiện việc chiếm đoạt tài sản của các bị hại. Do đó, với hành vi như trên của các bị cáo M, H đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét về vai trò và tính chất, mức độ của hành vi phạm tội thấy:
Về vai trò: Hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo M, H là đồng phạm giản đơn, M và H cùng nhau thực hiện trộm cắp. Bị cáo M người rủ bị cáo H trộm cắp tài sản, là người trực tiếp lấy tài sản và mang đi tiêu thụ lấy tiền chi tiêu cá nhân hết. Bị cáo H là người cùng M đi trộm cắp tài sản và cùng M mang tài sản đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân hết. Như vậy, xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thì bị cáo M có
7
vai trò thứ nhất trong vụ án, cao hơn bị cáo H. Bị cáo H có vai trò giúp sức tích cực nên có vai trò thứ hai. Đây là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo đã có hành vi lén lút để thực hiện việc chiếm đoạt tài sản của các bị hại, các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, đã xâm phạm quyền sở H tài sản của Cng dân được pháp luật bảo vệ và mất an ninh trật tự trên địa bàn. Vì vậy, vụ án cần phải được xử lý tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã nộp lại tài sản trộm cắp ngày 05/3/2025 để trả lại cho bị hại; sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện đã ra đầu thú nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Về nhân thân: Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích trên, đánh giá về vai trò, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo và nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy:
Các bị cáo M, Trường là các đối tượng nghiện ma túy, không chịu làm ăn, phạm tội với lỗi cố ý, phạm tội nhiều lần, tính chất tội phạm trộm cắp tài sản ngày càng gia tăng trên địa bàn thị xã Việt Yên nên Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc các bị phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo với xã hội trong một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người Cng dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật.
Như vậy, mức đề nghị hình phạt của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo là phù hợp nên cần được chấp nhận.
[7] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự có quy định phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo. Trong vụ án này, các bị cáo không có tài sản riêng, là người nghiện ma túy, là người dân tộc sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại anh Cứ A L, chị Hàng Thị C, anh Phan Văn Q và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lưu M H không có yêu cầu bồi thường dân sự. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
8
[9] Về xử lý vật chứng:
- Đối với biển số xe mô tô là biển số của xe mô tô đã thu giữ, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, không biển số, số khung RLHJA3935PY009000, số máy JA70E-0011504và là tài sản của bà Lò Thị S, sinh năm 1968 (mẹ của bị cáo H) cho H mượn để làm phương tiện đi làm, không biết H sử dụng vào việc phạm tội; 01 điện thoại Oppo A5-2020, 01 máy tính Laptop nhãn hiệu Dell Vostro- ram 3GB, màu đen cùng dây sạc là tài sản của anh Q; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6- 16GB, 01 Laptop màu đen, nhãn hiệu DELL E7250, Ram 8GB, ổ cứng 25GB, 01 dây sạc Laptop là tài sản của anh L. Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở H là bà S, anh L, anh Q.
- Đối với 01 điện thoại di động Oppo F7 màu xanh có số Imei: 869308035825576, lắp sim 1 số 0774313696 và sim 2 số 0364736476 (đã được niêm phong theo quy định) là tài sản của bị cáo H không dùng phạm tội, tại phiên tòa bị cáo đề nghị xin lại nên Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho bị cáo.
[10] Các vấn đề khác:
- Đối với người thanh niên tên Nguyễn Văn Mạnh, các bị cáo khai không biết họ tên, địa chỉ ở đâu, không nói cho biết việc đi trộm cắp tài sản và đi tiêu thụ tài sản trộm cắp nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác M và đề cập xử lý.
- Đối với anh Nguyễn Trọng H, anh Lưu M H không biết tài sản mua của các bị cáo là do phạm tội mà có; bà S không biết bị cáo sử dụng xe mô tô cho mượn vào việc trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
[11] Về án phí: Bị cáo M, H là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Lò Văn M 01 (một) năm 4 (bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 06/3/2025.
Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Lò Văn M.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Lò Văn H 01 (một) năm 01 (một) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 06/3/2025.
Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Lò Văn H.
9
[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo Lò Văn H: 01(một) điện thoại di động Oppo F7 màu xanh có số Imei: 869308035825576, lắp sim 1 số 0774313696 và sim 2 số 0364736476 (đã được niêm phong theo quy định).
[3] Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
Các bị cáo Lò Văn M, Lò Văn H được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Vân |
10
Bản án số 122/2025/HS-ST ngày 20/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 122/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo M, H phạm tội trộm cắp tài sản
