Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Bản án số: 122/2025/HS-ST

Ngày: 17/06/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Hòa

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ron

2. Ông Nguyễn Tấn Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trâm - Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Mai Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 06 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 05 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2025/QĐXXST-HS ngày 02/06/2025 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Duy D, sinh ngày: 03/4/1967 tại: Khánh Hoà; Nơi đăng ký HKTT: 113 N, phường V, thành phố N, Khánh Hòa; Nơi cư trú: Không có nơi ở ổn định; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Duy T (Chết) và bà Cao Thị T1 (Chết); A, chị ruột: 03 người; Vợ: Trần Thị Kim P (chết); Con: 01 người con sinh năm 1990.

Tiền án: 03 tiền án. Ngày 18/5/2020, bị TAND TP. Nha Trang, Khánh Hoà xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 29/9/2020, bị TAND TP. Nha Trang, Khánh Hoà xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt với bản án ngày 18/5/2020 là 02 năm 06 tháng tù; Ngày 30/9/2020, bị TAND TP. Nha Trang, Khánh Hoà xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tổng hợp hình phạt hai tội là 02 năm 06 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù của 03 bản án vào ngày 30/8/2023. Tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp “Tạm giam” từ ngày 24/01/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Q - thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

Bị hại: Nguyễn Văn B, sinh năm: 2001; Trú tại: E N, thành phố Q, tỉnh Bình Định (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Vũ Quang H, sinh năm: 1978; Trú tại B N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (vắng mặt)

Lữ Ngọc B1, sinh năm: 1980; Trú tại: Thôn V, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 21/12/2024, bị cáo Lê Duy D đi từ thành phố N, tỉnh Khánh Hòa đến TP ., tỉnh Bình Định để tìm bạn và xin việc. Khi đến thành phố Q, do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên D nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Vào khoảng 18 giờ 45 phút, ngày 21/12/2024, khi đi trên đường thì D phát hiện tại nhà trọ E N, phường Q, TP ., có nhiều xe mô tô không có người trông coi nên D lén lút dùng chìa khoá xe nhặt được từ trước, mở khoá điện rồi dắt bộ xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 81F1-105.66 của anh Nguyễn Văn B đến bên hông nội bộ nhà trọ rồi điều khiển xe mô tô bỏ đi. Khi đi đến đoạn đường Q, phường T, TP ., D liên hệ cho Vũ Quang H nói dối là gửi xe cho con, nói H đến ngã ba Nhà M, TP . nhận và giữ xe giúp, H tin tưởng nên đồng ý. Khoảng 20 giờ cùng ngày D gửi xe mô tô 81F1-105.66 cho xe khách “Hoàng Huy”, biển số 50D-496.77 vào TP .. Vì không có tiền nên bị cáo D nợ anh Lữ N Biết là nhân viên nhà xe số tiền 300.000 đồng cước vận chuyển và mượn thêm 500.000 đồng, nói khi đến N sẽ có người trả tiền lại cho anh B1. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi đến N thì anh B1 gọi điện cho H đến nhận xe, H đưa cho anh B1 800.000 đồng. Ngày 22/12/2024, bị cáo D bị Công an T2 phát hiện và đưa về trụ sở làm việc.

Ngày 06/01/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen xám, biển số 81F1-105.66, số khung 3240JY134393, đã qua sử dụng, có trị giá tại thời điểm chiếm đoạt là 11.000.000 đồng.

Về vật chứng: CQCSĐT - Công an T2 đã tạm giữ và ra quyết định xử lý vật chứng trả lại một xe mô tô biển số 81F1-105.66, đặc điểm như trên cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn B

Hiện Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đang tạm giữ của bị cáo D: 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, Model: TA-1375, số Imel 1: 355406842303521, số Imel 2: 355406842803520, đã qua sử dụng; 01 mũ vải lưỡi trai, màu đen, phía trước có họa tiết bốn vòng tròn màu trắng màu trắng và chữ “Audi” màu đỏ, phía sau có chữ: “CHASE CHAMPION SHIPS” màu trắng, đã qua sử dụng; 01 khẩu trang y tế, màu xanh nhạt, phía trước có chữ: “PT Mask”; 01 đôi dép lê da, màu đen, mặt trên đế dép có chữ: “NGỌC CHÂU Sản Phẩm Được Bảo Hành”, đã qua sử dụng; 01 áo sơ mi nam dài tay, màu trắng, trên ngực trái áo có logo in chữ: “Calvln kleln”, đã qua sử dụng; 01 quần dài (J), màu xanh, trên lưng quần có in chữ: “THE ANDREW PANT PLEATED FRONT CLASSPC FTT” (màu đen) JEANS (màu đỏ) the reai american fragranca jeans, C (màu đen), đã qua sử dụng; 01 dây thắt lưng da, màu vàng, khóa chốt lỗ bằng kim loại màu trắng, trên dây có chữ: “VERSACE” và 02 đĩa DVD.

Về dân sự: Bị hại Nguyễn Văn B đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm.. Vũ Quang H là người nhận xe và trả giúp Danh số tiền 800.000 đồng cho nhà xe H1, H không yêu cầu D trả lại số tiền này và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bản Cáo trạng số: 86/CT-VKSQN ngày 09 tháng 05 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Lê Duy D về tội: "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội: Bị cáo Lê Duy D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố nên Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s, khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Duy D từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh đã qua sử dụng của bị cáo D.

Tuyên tịch thu tiêu huỷ đồ dùng cá nhân của bị cáo D gồm : mũ, áo, quần (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn)

- Bị cáo Lê Duy D thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T2, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.1] Bị hại Nguyễn Văn B; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Vũ Quang H, Lữ Ngọc B1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, những người này đều đã có lời khai đầy đủ, phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, hoàn trả gì. Xác định, sự vắng mặt đó không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án do đó đã có đủ cơ sở xác định: Vì cần tiền để tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 18 giờ 45 phút ngày 21/12/2024, tại nhà trọ số E N, phường Q, TP ., Lê Duy D đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 81F1-105.66 trị giá 11.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn B. Hành vi do bị cáo Lê Duy D gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, trị an ở địa phương. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố bị cáo Lê Duy D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng tội.

[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Duy D có nhân thân xấu. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người có nhân thân xấu đã bị Tòa án đưa ra xét xử nhiều lần về tội “Trộm cắp tài sản” nên cần thiết phải xử bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

[5] Về dân sự: Bị hại Nguyễn Văn B đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT - Công an T2 đã xử lý theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không xét. Đối với 02 đĩa DVD ghi lại hình ảnh vụ trộm do bị cáo Lê Duy D thực hiện là vật chứng vụ án, cần tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách nhà nước đối với điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh của bị cáo (do bị cáo D không có nhu cầu nhận lại). Tịch thu tiêu huỷ đồ dùng cá nhân của bị cáo D gồm: mũ, áo, quần, dép, thắt lưng (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/6/2025 của Chi cục thi hành án thành phố Quy Nhơn)

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

[8] Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đề nghị áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, mức hình phạt đối với bị cáo Lê Duy D là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[9] Vấn đề khác: Đối với Lữ N Biết là tài xế xe khách “Hoàng Huy” nhận chở xe mô tô 81F1- 105.66 cho D, Vũ Quang H là người nhận xe mô tô 81F1-105.66 do D gửi tại TP N, tỉnh Khánh Hòa, B1 và H không biết xe là tài sản do D trộm cắp mà có, không bàn bạc, hứa hẹn trước với D về việc trộm cắp xe này nên không phạm tội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T3 về án phí, lệ phí tòa án

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Duy D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt:

    Xử phạt: Bị cáo Lê Duy D 18 (mười tám) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 24/01/2025.

  3. Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản; không có yêu cầu về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.
  4. Xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, Model: TA-1375, số Imel 1: 355406842303521, số Imel 2: 355406842803520, đã qua sử dụng của bị cáo Lê Duy D
    • - Tịch thu tiêu huỷ đồ dùng cá nhân của bị cáo D gồm: 01 mũ vải lưỡi trai; 01 khẩu trang y tế; 01 áo sơ mi nam dài tay, màu trắng; 01 quần dài (J), màu xanh; 01 dây thắt lưng da, màu vàng
    • (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn)
  5. Đối với 02 đĩa DVD ghi lại hình ảnh vụ trộm do bị cáo Lê Duy D thực hiện là vật chứng vụ án, cần tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án.
  6. Án phí: Buộc bị cáo Lê Duy D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND tỉnh Bình Định
  • - VKSND TP. Quy Nhơn;
  • - Chi cục THADS TP. Quy Nhơn;
  • - CQ CSĐT CA tỉnh Bình Định;
  • - CQ THAHS CA tỉnh Bình Định;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Bình Định
  • Phân trại tạm giam khu vực Quy Nhơn
  • - Đương sự
  • - Bị cáo
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Trần Thị Minh Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2025/HS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 122/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LÊ DUY D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger