|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 122/2025/HS-ST Ngày 10-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hiền;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Mai Hồng Phong;
- Bà Thái Thục Hiền.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Phương, Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên tòa: Ông Đinh Viết Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 109/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 249/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025 và Thông báo về việc dời thời gian xét xử vụ án hình sự sơ thẩm số 109/TB-TA ngày 30/5/2025, đối với bị cáo:
Phạm Văn H, sinh ngày 17/12/1995, tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 2 Đường A, phường H, Quận H, Thành Phố Hồ Chí Minh (Số cũ: 2 đường M, Phường I, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh); chỗ ở hiện nay: 2 Đường A, phường H, Quận H, Thành Phố Hồ Chí Minh (Số cũ: 2 đường M, Phường I, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; con ông Phạm Văn H1 (sinh năm 1969) và bà Nguyễn Thị Bạch T (sinh năm 1965); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/12/2024; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Bạch T, sinh năm 1965 (Có mặt);
Địa chỉ: 2 Đường A, phường H, Quận H, Tp . (Số cũ: 2 đường M, Phường I, Quận H, Tp.).
- Người làm chứng:
- Ông Trần Lương Khánh T1, sinh năm 1996 (Có mặt);
- Ông Phạm Vượng Duy L, sinh năm 1990 (Vắng mặt);
Địa chỉ: 7 P, phường H, Quận H, Tp ..
Địa chỉ: A N, phường H, Quận H, Tp ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 18 giờ 50 phút, ngày 28/11/2024, H sử dụng điện thoại di động hiệu Nokia, gắn sim số 0777075522 gọi cho một nam thanh niên tên “Quậy” qua số điện thoại 0933.943.xxx để nhờ “Quậy” tìm ma túy để sử dụng (H quen biết “Quậy” ngoài xã hội, không biết rõ lai lịch). Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, “Quậy” gọi điện cho H ra trước nhà số A N, Phường B, Quận H sẽ có một người thanh niên khoảng 35 tuổi đến bán ma túy cho H. Theo lời “Quậy”, H đi ra điểm hẹn gặp người đàn ông (không rõ lai lịch) nêu trên mua 2.800.000 đồng ma túy đá. H nhận ma túy và đưa tiền mặt cho người đàn ông này rồi đem về phòng ngủ của H cất giấu để dành sử dụng dần.
Đến khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 02/12/2024, Công an P, Quận H tiến hành kiểm tra hành chính nhà số B đường M, Phường I, Quận H (số mới là 20/1 Đường A, phường H, Quận H, Thành Phố Hồ Chí Minh). Tại thời điểm kiểm tra, có mặt Phạm Văn H và trên bàn có 01 (một) ly thủy tinh đựng tăm bông, phía trên có 01 gói nylon chứa tinh thể là ma túy của H mua từ “Quậy” để sử dụng; trên sàn nhà có 01 bình thủy tinh gắn nắp, trên nắp có 01 (một) ống thủy tinh chứa tinh thể màu nâu là ma túy của H mua từ “Quậy” đang sử sụng và 01 (một) ống hút nhựa. Ngoài ra, Công an P, Quận H còn tạm giữ của H 02 (hai) hộp quẹt ga dùng để đốt nóng bình thủy tinh sử dụng ma túy và 01 (một) cái loa nghe nhạc khi H sử dụng ma túy; 02 (hai) điện thoại di động (H sử dụng điện thoại di động hiệu N, gắn sim số 0777075522 để liên lạc mua ma túy), 01 (một) Ipad đang kết nối với cái loa để H nghe nhạc. Sau đó, Công an P, Quận H phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy và Đội điều tra tổng hợp Công an Q tiến hành khám nghiệm hiện trường thu giữ vật chứng và dẫn giải H về trụ sở Công an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q để điều tra, giải quyết theo thẩm quyền.
Theo Kết luận giám định số 14408/KL-KTHS ngày 11/12/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể được ký hiệu mẫu m₁ là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,9079g, loại Methamphetamine và tinh thể ký hiệu mẫu m2 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0066g, loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn H khai nhận hành vi phạm tội như trên. Lời khai của Phạm Văn H phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập.
Đối với nam thanh niên tên “Quậy” bán ma túy cho bị cáo H, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H (PC04) tiếp tục truy xét, khi nào phát hiện sẽ xử lý sau.
Đối với căn nhà số B đường M, Phường 1, Quận H (số mới là 20/1 Đường A, phường H, Quận H, Thành Phố Hồ Chí Minh) do bà Nguyễn Thị Bạch T (mẹ ruột của bị cáo H) làm chủ sở hữu, việc H sử dụng căn phòng riêng làm nơi cất giữ ma túy và sử dụng ma túy bà T không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H (PC04) không xử lý hình sự bà T.
Vật chứng vụ án:
- Tạm giữ của Phạm Văn H:
- + 01 gói được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay ghi tên Phạm Văn H và hình dấu Công an P, Quận H; Số niêm phong 4585/24G1; giám định viên: Thiếu tá Trần Đình H2; ĐTV thụ lý vụ án: Đại úy Đoàn Quang H3; bên trong có chứa ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 2,9079g (sau giám định còn lại 2,8600g; 01 bình thủy tinh gắn nắp, trên nắp có 01 ống hút và 01 ống thủy tinh màu nâu có chứa ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,0066g (sau giám định: đã sử dụng hết cho việc giám định); 02 hộp quẹt ga; 01 cái loa;
- + 01 điện thoại di động hiệu Nokia Model: RM1187, IMEI 1: 357344081070386, IMEI 2: 357342081550389, gắn sim số 0777075522;
- + 01 điện thoại di động Iphone, hiệu Apple màu trắng, số sê-ri: FFXHH0FZ0W, gắn sim số 0909121942;
- + 01 Ipad màu trắng không gắn sim, không lên màn hình, số sê-ri: F4KN354CFLMK.
Tất cả các vật chứng trên hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8 tạm giữ.
Tại bản Cáo trạng số 92/CT-VKSQ8 ngày 13/5/2025 và tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 đã truy tố và kết luận bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tại phiên tòa, sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 đề nghị Tòa án xử phạt bị cáo Phạm Văn H từ 03 năm đến 04 năm tù, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Đối với vật chứng của vụ án, đề nghị Tòa án tịch thu tiêu hủy 01 gói được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay ghi tên Phạm Văn H và hình dấu Công an P, Quận H; Số niêm phong 4585/24G1; giám định viên: Thiếu tá Trần Đình H2; ĐTV thụ lý vụ án: Đại úy Đoàn Quang H3 và 02 hộp quẹt ga; tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 cái loa và 01 điện thoại di động hiệu Nokia Model: RM1187, IMEI 1: 357344081070386, IMEI 2: 357342081550389, gắn sim số 0777075522 và 01 Ipad màu trắng không gắn sim, không lên màn hình, số sê-ri: F4KN354CFLMK; trả lại cho bị cáo H3 01 điện thoại di động Iphone, hiệu Apple màu trắng, số sê-ri: FFXHH0FZ0W, gắn sim số 0909121942.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định: Vào 21 giờ 00 phút ngày 02/12/2024, tại nhà số B đường M, Phường I, Quận H (số mới là 20/1 Đường A, phường H, Quận H, Thành Phố Hồ Chí Minh), bị cáo Phạm Văn H đã có hành vi cất giữ trái phép 2,9145g ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
[3] Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng..."
[4] Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và an toàn xã hội. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Phạm Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, là chất độc dược ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng cũng như là nguyên nhân phát sinh tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật, đồng thời phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.
[6] Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
[7] Xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn, hành vi không nhằm mục đích thu lợi nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng:
- [8.1] 01 gói được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay ghi tên Phạm Văn H và hình dấu Công an P, Quận H; Số niêm phong 4585/24G1; giám định viên: Thiếu tá Trần Đình H2; ĐTV thụ lý vụ án: Đại úy Đoàn Quang H3; bên trong có chứa ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 2,9079g (sau giám định còn lại 2,8600g; 01 bình thủy tinh gắn nắp, trên nắp có 01 ống hút và 01 ống thủy tinh màu nâu có chứa ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,0066g (sau giám định: đã sử dụng hết cho việc giám định). Xét thấy ma túy là vật cấm tàng trữ, lưu hành và các vật dụng nêu trên bị cáo dùng làm công cụ để sử dụng ma túy nên cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- [8.2] 02 hộp quẹt ga tạm giữ của bị cáo H3, xét thấy bị cáo dùng làm công cụ để sử dụng ma túy, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- [8.3] 01 cái loa và 01 Ipad màu trắng không gắn sim, không lên màn hình, số sê-ri: F4KN354CFLMK là tài sản của bị cáo H3. Xét thấy, H3 sử dụng loa kết nối với I nhằm nghe nhạc khi sử dụng ma túy được coi là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- [8.4] 01 điện thoại di động hiệu Nokia Model: RM1187, IMEI 1: 357344081070386, IMEI 2: 357342081550389, gắn sim số 0777075522 là tài sản của bị cáo H3, bị cáo H3 dùng để liên lạc mua ma túy. Xét đây là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- [8.5] 01 điện thoại di động Iphone, hiệu Apple màu trắng, số sê-ri: FFXHH0FZ0W, gắn sim số 0909121942 và thu giữ của bị cáo H3. Xét đây là tài sản của bị cáo H3 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo H3 theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Đối với nam thanh niên tên “Quậy” bán ma túy cho bị cáo H3, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H (PC04) tiếp tục truy xét, khi nào phát hiện sẽ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
[10] Đối với bà Nguyễn Thị Bạch T là mẹ ruột của bị cáo H3, đồng thời là chủ sở hữu căn nhà số B đường M, Phường 1, Quận H (số mới là 20/1 Đường A, phường H, Quận H, Thành Phố Hồ Chí Minh), bà T không biết H3 sử dụng căn phòng riêng của H3 làm nơi cất giữ ma túy và sử dụng ma túy cho đến khi bị phát hiện xử lý, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H (PC04) không xử lý hình sự bà T là có cơ sở.
[11] Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 02/12/2024.
- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy:
01 gói được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay ghi tên Phạm Văn H và hình dấu Công an P, Quận H; Số niêm phong 4585/24G1; giám định viên: Thiếu tá Trần Đình H2; ĐTV thụ lý vụ án: Đại úy Đoàn Quang H3; 02 hộp quẹt gas.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:
01 loa; 01 điện thoại di động hiệu Nokia Model: RM1187, IMEI 1: 357344081070386, IMEI 2: 357342081550389, gắn sim số 0777075522 và 01 Ipad màu trắng không gắn sim, không lên màn hình, số sê-ri: F4KN354CFLMK.
Trả lại cho Phạm Văn H:
01 điện thoại di động Iphone, hiệu Apple màu trắng, số sê-ri: FFXHH0FZ0W, gắn sim số 0909121942
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 29/5/2025, tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8).
- Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Phạm Văn H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo Phạm Văn H có quyền kháng cáo bản án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bạch T có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./ .
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu Hiền |
Bản án số 122/2025/HS-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 122/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
