|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 122/2025/HS-PT Ngày 11 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành;
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Quyên;
Ông Nguyễn Xuân Quang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Ông Trìu A Sám - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 495/2024/TLPT-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo Châu Thanh B và Đinh Văn U; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 169/2024/HS-ST ngày 29-7-2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Các bị cáo có kháng cáo:
- Châu Thanh B, sinh năm 1991 tại Đồng Nai; Căn cước công dân số: 07509101904X; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Ấp G, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Châu Văn T và bà Dương Thị Đ; có vợ tên Lê Thị L (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; hiện nay, bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số: 11/2025/LCĐKNCT ngày 17-01-2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; có mặt tại phiên tòa.
- Đinh Văn U, sinh năm 2000 tại Thanh Hóa; Căn cước công dân: 03820000053X; nơi đăng ký thường trú: Thôn L, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú (lý lịch bị can): Ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai (tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo trình bày đang cư trú tại Ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai); giới tính: Nam; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Thổ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn Q và bà Lê Thị Q1; có vợ tên Hồ Thị Thu H và có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; hiện nay, bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số: 10/2025/LCĐKNCT ngày 17-01-2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; có mặt tại phiên tòa.
- Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Đỗ Văn T1 nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nội dung chính:
- Định giá tài sản:
- Về dân sự:
- Quyết định của cấp sơ thẩm:
- - Tuyên bố các bị cáo Châu Thanh B, Đỗ Văn T1 và Đinh Văn U phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Xử phạt: C1 (tám) tháng tù, Đinh Văn U 06 (sáu) tháng tù và Đỗ Văn T1 07 (bảy) tháng tù.
- Kháng cáo:
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:
Vào tháng 4/2020, Châu Thanh B là công nhân của của Công ty Trách nhiệm hữu hạn S (sau đây, viết tắt là Công ty S), thuộc Khu công nghiệp F, huyện N. Trong lúc làm việc, B được giao nhiệm vụ tiêu hủy giày lỗi hiệu Lacoste không đủ tiêu chuẩn, nên nảy sinh ý định lấy trộm đem về sử dụng và bán lấy tiền tiêu xài. B lấy trộm 02 đôi giày rồi đưa cho một công nhân thời vụ tên Q2 (chưa rõ nhân thân) mang ra ngoài; sau đó, đưa giày lại cho B, B lấy 01 đôi và cho Q2 01 đôi. B rủ Đỗ Văn T1 cũng là công nhân của Công ty S cùng với B trộm cắp giày, T1 đồng ý. B và T1 thỏa thuận, B sẽ lấy trộm giày đưa mang ra ngoài đưa cho T1, T1 mang giày đi tiêu thụ rồi sau đó chia tiền bán giày cho B. Để thực hiện ý định trên, B trong lúc làm việc sẽ lấy trộm giày rồi đưa cho Q2 (chưa mang ra ngoài); sau đó, đưa giày lại cho B, B sẽ đưa cho T1 mang đi bán, mỗi đôi sẽ cho Q2 300.000 đồng. B, T1 và Q2 lấy trộm được 28 đôi giày, T1 đem số giày trên bán cho V (chưa rõ nhân thân) mỗi đôi 700.000 đồng, T1 hưởng 200.000 đồng, chia cho B 500.000 đồng.
Đến tháng 11/2020, Đinh Văn U là công nhân bộ phận tổ kéo của Công ty S biết B lấy trộm được giày lỗi nên xin B trộm cho U 01 đôi, đem về sử dụng; B đồng ý lấy trộm 01 đôi đưa cho U. B biết U đem giày ra khỏi công ty được, nên rủ U tham gia trộm cắp giày với B và T1 bán lấy tiền chia nhau, B sẽ lấy trộm giày đưa cho U mang ra ngoài đưa cho T1 mang đi tiêu thụ, B sẽ cho U 300.000 đồng/đôi, U đồng ý. Sau đó U rủ chị Đinh Thị T2 là công nhân thời vụ làm vệ sinh tại công ty, lấy trộm giày lỗi đem ra ngoài, mỗi đôi Uy cho T2 150.000 đồng, T2 đồng ý. U và T2 thỏa thuận với nhau là U đem vào giấu ở nhà vệ sinh, còn T2 vào lấy giày đem ra ngoài công ty giao lại cho U. B, T1, U và T2 lấy trộm được 12 đôi giày, số giày trên T1 tiếp tục bán cho V với giá 700.000 đồng/đôi. Từ 4/2020 đến tháng 02/2021, B thu lợi được 10.000.000 đồng, T1 thu lợi được 6.000.000 đồng và U thu lợi được 2.500.000 đồng. Đến ngày 02/02/2021, B và U lấy trộm 02 đôi giày (giày lỗi) của công ty Đ1 vào nhà vệ sinh cất giấu. Đến 11 giờ 30 phút ngày 03/2/2021, T2 lấy 02 đôi giày bỏ vào một cái bịch màu đen mang ra ngoài cho U thì bị bảo vệ Công ty S phát hiện bắt giữ và trình báo cho Đồn Công an khu công nghiệp lập hồ sơ ban đầu, chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra thụ lý theo thẩm quyền.
Đối với Đinh Thị T2 khai nhận tham gia trộm 02 đôi giày, hiện Trường đã bỏ đi khỏi địa phương, không xác định T2 tham gia trộm bao nhiêu đôi giày với các bị cáo nên chưa đủ căn cứ để khởi tố, Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xứ lý sau là phù hợp quy định pháp luật.
Đối với người tên Q2 và tên V, đến nay chưa xác định nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Bản Kết luận định giá tài sản số: 71/KLĐG-HĐĐG ngày 21/5/2021 của Hội đồng Định giá trong tố tụng hình sự huyện N, kết luận: 45 đôi giày lỗi với giá 175.000 đồng/đôi. Tổng tài sản định giá có giá trị là 7.875.000 đồng (bảy triệu tám trăm bảy mươi lăm ngàn đồng).
Tại cấp sơ thẩm, Đỗ Văn T1 bồi thường 7.000.000 đồng, C bồi thường 9.000.000 đồng và Đinh Văn U bồi thường 2.500.000 đồng cho bị hại Công ty S. Bị hại không còn yêu cầu gì thêm.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 169/2024/HS-ST ngày 29-7-2024 và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số: 79/2024/TB-TA ngày 10-10-2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, đã quyết định:
- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về dân sự, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.
Các bị cáo Châu Thanh B và Đinh Văn U kháng cáo, đề nghị được hưởng án treo.
Kiểm sát viên đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án; xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Châu Thanh B và Đinh Văn U theo tội danh và điều luật bản án sơ thẩm đã nêu là có căn cứ, đúng người, đúng tội và hình phạt là phù hợp. Các bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết nào mới, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tội danh:
- Về kháng cáo:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã nộp tiền bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Hình phạt:
- Về án phí:
- Chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm.
Tại phiên tòa, các bị cáo Châu Thanh B và Đinh Văn U thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu; cùng với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng, đủ cơ sở xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá toàn diện, việc cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo hình phạt như trên là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp tình tiết nào mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1, 2 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Châu Thanh B và Đinh Văn U.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 169/2024/HS-ST ngày 29-7-2024 và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số: 79/2024/TB-TA ngày 10-10-2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Tội danh và hình phạt:
- - Xử phạt bị cáo Châu Thanh B 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp ài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày người bị kết án Châu T vào cơ sở giam giữ chấp hành án phạt tù.
- - Xử phạt bị cáo Đinh Văn U 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày người bị kết án Đinh Văn U vào cơ sở giam giữ chấp hành án phạt tù.
- Về án phí:
- Quyết định của bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Đỗ Văn T1, dân sự và án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Các bị cáo Châu Thanh B và Đinh Văn U, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký và đóng dấu Nguyễn Văn Thành |
Bản án số 122/2025/HS-PT ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 122/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Châu Thanh B và Đinh Văn U phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
