|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 122/2025/HNGĐ-ST Ngày: 23-6-2025 V/v "Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hùng Bích và bà Hồ Thị Kim Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Duy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 337/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 293/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 299/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Lan K, sinh năm 1978. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1971. (Vắng mặt)
Cư trú: Số H đường T, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
Địa chỉ liên hệ: số D đường số C, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Cư trú: Số H đường T, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Phan Thị Lan K, trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Lan K và ông Nguyễn Ngọc P tự nguyện tìm hiểu sau đó tiến đến hôn nhân vào năm 1996, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật và được Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 149/KH.96 ngày 01 tháng 11 năm 1996. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã và ông P còn dùng vũ lực đánh đập bà K. Bà K đã bỏ về nhà cha mẹ ruột sống và vợ chồng đã ly thân nhau từ năm 2024 đến nay. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà K yêu cầu được ly hôn với ông P.
+ Về con chung: Bà Phan Thị Lan K và ông Nguyễn Ngọc P có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 22/02/1998 và Nguyễn Ngọc Q, sinh ngày 02/3/2005. Hiện nay hai con chung đã thành niên và có khả năng lao động, không yêu cầu Toà án giải quyết.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc P không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; không tham dự phiên tòa do Tòa án triệu tập.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Lan K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Phan Thị Lan K tranh chấp về ly hôn với ông Nguyễn Ngọc P, tranh chấp được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Ông Nguyễn Ngọc P có nơi cư trú tại thành phố L, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Ngọc P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không tham gia phiên tòa, bà Phan Thị Lan K có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt bà Phan Thị Lan K và ông Nguyễn Ngọc P.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân:
[3.1.1] Bà Phan Thị Lan K và ông Nguyễn Ngọc P tự nguyện quen biết, tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 149/KH.96 ngày 01 tháng 11 năm 1996. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà Phan Thị Lan K khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc P. Bà Phan Thị Lan K cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau, ông Nguyễn Ngọc P đã dùng vũ lực đánh đập bà K và vợ chồng đã ly thân nhau từ năm 2024 đến nay.
[3.1.2] Hội đồng xét xử xét: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Ngọc P không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Lan K; không tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như không tham dự các phiên tòa. Điều này thể hiện ông Nguyễn Ngọc P không muốn đoàn tụ gia đình. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, các bên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Lan K là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.2] Về con chung: Bà Phan Thị Lan K và ông Nguyễn Ngọc P có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 22/02/1998 và Nguyễn Ngọc Q, sinh ngày 02/3/2005. Hiện nay hai con chung đã thành niên và có khả năng lao động, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phan Thị Lan K không yêu cầu Tòa án giải quyết và ông Nguyễn Ngọc P cũng không có ý kiến về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các bên có phát sinh tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
[3.4] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Phan Thị Lan K có nghĩa vụ nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Lan K. Bà Phan Thị Lan K được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc P.
- Về con chung: Không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Phan Thị Lan K phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002695 ngày 11 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Bà Phan Thị Lan K đã thực hiện xong.
- Về quyền kháng cáo: Bà Phan Thị Lan K và ông Nguyễn Ngọc P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Lan |
4
Bản án số 122/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 122/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Lan K
