Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ VANG

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 122/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 17/6/2025

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG - THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thúc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hồ Thế Vinh.
  2. Ông Nguyễn Văn Hóa.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Tôn Thất Nhật Tài – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phú Vang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Loan – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Vang, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 174/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Lệ T, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện P, thành phố H; địa chỉ liên lạc: Số F đường N, khu nhà ở P, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Mai Hoàng T1, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện P, thành phố H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 05/4/2024, bản tự khai ngày 15/01/2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn- chị Nguyễn Thị Lệ T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Lệ T và anh Mai Hoàng T1 tìm hiểu nhau một thời thời gian, sau đó tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P vào ngày 06/9/2014. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau nhưng đến khoảng tháng 9 năm 2016 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến thường xuyên cãi vã và không tôn trọng nhau. Ngoài ra, anh T1 còn hay đánh đập chị T làm cho mâu thuẫn càng trầm trọng hơn. Đến cuối năm 2016 thì vợ chồng đã sống ly thân với nhau cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng không còn quan tâm và chăm sóc đến nhau nữa, mỗi người đều có cuộc sống riêng. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T xin được ly hôn với anh T1.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Lệ T trình bày vợ chồng có 01 con chung là Mai Hoàng H, sinh ngày 30/11/2015, hiện nay con đang ở với chị T. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Lệ T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật để anh Mai Hoàng T1 thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình nhưng anh T1 vẫn vắng mặt nên không có lời khai của anh T1.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

- Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật về tố tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang có ý kiến: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, người tiến hành tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng không có vi phạm gì cần kiến nghị khắc phục. Bị đơn không thực hiện đúng quy định tại điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ làn thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị giải quyết vụ án theo hướng: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Lệ T, cho chị Nguyễn Thị Lệ T được ly hôn với anh Mai Hoàng T1. Về con chung: Giao con chung Mai Hoàng H, sinh ngày 30/11/2015 cho chị Nguyễn Thị Lệ T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi thành niên, đủ 18 tuổi; anh Mai Hoàng T1 không phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Lệ T xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Lệ T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn- anh Mai Hoàng T1 đang cư trú tại địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện P, thành phố H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, thành phố H theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn- chị Nguyễn Thị Lệ T vắng mặt, đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Mai Hoàng T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng nên căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh T1 không đến làm việc, không cung cấp tài liệu, chứng cứ là tự chối bỏ thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Do đó, Tòa án căn cứ các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và tài liệu thu thập được để giải quyết vụ án

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Lệ T và anh Mai Hoàng T1 chung sống với nhau, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam nên được công nhận hôn nhân hợp pháp.

Xét về yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Lệ T, thấy rằng: Theo kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ, lời khai của chị T2, có cơ sở xác định: Vợ chồng sau khi kết hôn thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống nên hay cãi vã và không tôn trọng nhau. Vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ cuối năm 2016 cho đến nay. Từ khi chị T có đơn xin ly hôn, Tòa án đã nhiều lần triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để anh T1 trình bày ý kiến theo yêu cầu khởi kiện của chị T nhằm mục đích hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng nhưng anh T1 không đến, chứng tỏ anh Mai Hoàng T1 đã bỏ mặc cuộc hôn nhân này.

Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị Lệ T và anh Mai Hoàng T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Lệ T được ly hôn với anh Mai Hoàng T1 là đúng quy định pháp luật.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Lệ T xác nhận vợ chồng có 01 con chung là Mai Hoàng H, sinh ngày 30/11/2015, hiện nay đang ở với chị T. Xét thấy chị T đang có công việc và chỗ ở ổn định, cháu Mai Hoàng H có nguyện vọng được ở cùng với chị T nên cần giao con chung Mai Hoàng H cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên, đủ 18 tuổi là đúng quy định với pháp luật. Chị Nguyễn Thị Lệ T không yêu cầu anh Mai Hoàng T1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Lệ T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Buộc nguyên đơn chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Lệ T, cho chị Nguyễn Thị Lệ T được ly hôn với anh Mai Hoàng T1. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
  2. Về con chung: Giao con chung Mai Hoàng H, sinh ngày 30/11/2015 cho chị Nguyễn Thị Lệ T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, đủ 18 tuổi; anh Mai Hoàng T1 không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Lệ T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn; được khấu trừ hết vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004537 ngày 25/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Vang, thành phố H, chị T đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Huế;
  • - VKSND huyện Phú Vang;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Vang;
  • - UBND thị trấn Phú Đa, huyện Phú Vang (số 102 ngày 06/9/2014);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA;
  • - Lưu dán án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thúc Mỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG - THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 122/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG - THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xin ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger