|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 122/2025/HNGĐ-ST Ngày: 14-02-2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Nga
2. Ông Đặng Văn Ấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Đang – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 517/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1047/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Dương Thị Ngọc H, sinh năm: 1984
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm: 1983
Địa chỉ: B6/7 ấp 3, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: A1/11 ấp 1, xã Phong Phú, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bà H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông K vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 3 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Dương Thị Ngọc H trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn K bắt đầu chung sống với nhau vào năm 2007 do hai bên tự tìm hiểu, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phong Phú, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 07/5/2007. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường, thỉnh thoảng có xảy ra mâu thuẫn và cãi vã. Sau khi chung sống được vài năm thì ông K có hành vi đánh bà trước mặt con cái, nguyên nhân mâu thuẫn do chồng gia trưởng, bà nói lại thì bị đánh, vì sự việc xảy ra nhiều lần nên bà quyết định ly hôn. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn K.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà và ông K có 02 con chung tên là Nguyễn Hoàng Thế V, sinh ngày: 02/9/2009 và Nguyễn Hoàng Tuấn K, sinh ngày: 20/11/2015. Khi ly hôn, bà yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Hoàng Thế V và trẻ Nguyễn Hoàng Tuấn K; bà không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Ngoài ra bà H không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Bị đơn ông Nguyễn Văn K vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về việc giải quyết vụ án với đề nghị Hội đồng xét xử: chấp toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quá trình thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Dương Thị Ngọc H khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn K nên Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Nguyễn Văn K có nơi cư trú tại huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh do đó căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Dương Thị Ngọc H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Văn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Bị đơn ông Nguyễn Văn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia các phiên họp công khai chứng cứ, phiên tòa xét xử nhưng ông K vẫn vắng mặt, không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Điều này cho thấy ông K đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của bị đơn và từ bỏ nghĩa vụ chứng minh được quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ vụ án để giải quyết vụ án.
[4] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Trích lục kết hôn số 105/TLKH-BS ngày 21/02/2024 của Ủy ban nhân dân xã Phong Phú, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện ông Nguyễn Văn K và bà Dương Thị Ngọc H đăng ký kết hôn vào ngày 07/5/2007 tại Ủy ban nhân dân xã Phong Phú. Căn cứ Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì quan hệ hôn nhân của bà H và ông K là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
[5] Xét yêu cầu ly hôn của bà Dương Thị Ngọc H: Bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn K với lý do trong thời gian chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do ông K nhiều lần đánh bà khi bất đồng quan điểm dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn và không thể hàn gắn.
[6] Tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tình nghĩa vợ chồng như sau:
“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”.
[7] Tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án quyết định cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
[8] Tại Công văn số 2224/UBND ngày 26/8/2024 của Ủy ban nhân dân xã Phong Phú có nội dung phúc đáp không rõ bà H và ông K còn chung sống, không rõ có xảy ra mâu thuẫn và nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn. Hội đồng xét xử nhận thấy mặc dù địa phương không có thông tin về tình trạng hôn nhân, không rõ mâu thuẫn giữa bà H và ông K nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông K do tình cảm vợ chồng không còn và không thể hàn gắn điều này chứng tỏ bà H thực sự không mong muốn đoàn tụ với ông K.
[9] Hội đồng xét xử nhận thấy mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc và được xây dựng từ tình cảm yêu thương từ hai phía. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông K không đến Tòa án giải quyết, không gửi bất kỳ văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà H. Điều này chứng tỏ ông K không có thiện chí để Tòa án tiến hành hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ, bỏ mặc quan hệ hôn nhân.
[10] Căn cứ Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân của bà H và ông K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được cho nên việc duy trì quan hệ hôn nhân cũng không còn ý nghĩa. Do đó, bà H yêu cầu ly hôn với ông K là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Về con chung: Bà H và ông K có 02 con chung tên là trẻ Nguyễn Hoàng Thế V, sinh ngày: 02/9/2009 và trẻ Nguyễn Hoàng Tuấn K, sinh ngày: 20/11/2015. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng hai con.
[12] Tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
[13] Tại Biên bản ghi nhận ý kiến trẻ ngày 21/6/2024, trẻ Nguyễn Hoàng Thế V và trẻ Nguyễn Hoàng Tuấn K đều thể hiện ý kiến nếu ba mẹ ly hôn thì hai trẻ mong muốn sống cùng mẹ. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến về việc nuôi dưỡng con chung. Cho nên, Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết vấn đề con chung theo yêu cầu của nguyên đơn và tham khảo nguyện vọng của con chung nhằm đảm bảo sự phát triển tâm sinh tâm sinh lý được ổn định. Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao trẻ Nguyễn Hoàng Thế V và trẻ Nguyễn Hoàng Tuấn K cho bà Dương Thị Ngọc H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu sau này các đương sự có tranh chấp về con chung thì sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.
[14] Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con; nếu sau này các đương sự có sự tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.
[15] Về tài sản chung: Bà H xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết; nếu sau này các đương sự có sự tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.
[16] Về nợ chung: Bà H xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[17] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, Điều 91, khoản 4 Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 9, 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;
Căn cứ vào các Điều 19, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Ngọc H về việc yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn K.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị Ngọc H được ly hôn với Nguyễn Văn K.
- Về con chung: Bà Dương Thị Ngọc H và ông Nguyễn Văn K có 02 (hai) con chung tên là Nguyễn Hoàng Thế V, sinh ngày: 02/9/2009 và Nguyễn Hoàng Tuấn K, sinh ngày: 20/11/2015.
- Về tài sản chung: Bà Dương Thị Ngọc H xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết; nếu sau này các đương sự có sự tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.
- Về nợ chung: Bà Dương Thị Ngọc H xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Dương Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà bà Dương Thị Ngọc H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004127 ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Dương Thị Ngọc H đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Bà Dương Thị Ngọc H và ông Nguyễn Văn K được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Giấy chứng nhận kết hôn số 57/2007 đăng ký ngày 07/5/2007 tại Ủy ban nhân dân xã Phong Phú, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý.
Giao trẻ Nguyễn Hoàng Thế V và trẻ Nguyễn Hoàng Tuấn K cho bà Dương Thị Ngọc H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Nguyễn Văn K cho đến khi bà Dương Thị Ngọc H có yêu cầu.
Ông Nguyễn Văn K có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích con chung, sau này các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Kim Tuyền |
Bản án số 122/2025/HNGĐ-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 122/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
