TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 122/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10-6-2025
V/v tranh chấp xin ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Ngọc Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tấn Lộc
2. Ông Nguyễn Thanh Tùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Khải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 128/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025 về việc tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Văn Nh, sinh năm 1991 (Có mặt).
Địa chỉ: Khóm N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Chị Huỳnh Thị Nh1, sinh năm 1993 (Vắng mặt).
Địa chỉ thường trú: Khóm N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau.
Chỗ ở hiện nay: Ấp M, xã Tr, huyện C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 11/3/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là anh Trần Văn Nh trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Huỳnh Thị Nh1 sau khi quen biết, được sự thống nhất của gia đình hai bên đã tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tr, huyện C, tỉnh Cà Mau vào ngày 27/4/2015. Thời gian đầu anh và chị Nh1 chung sống hạnh phúc, thời gian gần đây anh và chị Nh1 phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên bất hòa, cự cãi với nhau, hôn nhân không còn hòa hợp và hạnh phúc, chị Nh1 đã bỏ về cha mẹ ruột sinh sống từ khoảng tháng 02/2024 cho đến nay. Nay, xét thấy tình cảm vợ chồng giữa anh và chị Nh1 đã không còn, hôn nhân không còn hạnh phúc và hàn gắn được nữa nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Huỳnh Thị Nh1.
Về con chung: Trong thời gian chung sống anh và chị Huỳnh Thị Nh1 có một người con chung tên Trần Minh Kh, sinh ngày 16/02/2017, hiện con đang sống chung với anh. Sau khi ly hôn, anh có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc con cho đến khi con đủ 18 tuổi, anh không yêu cầu chị Nh1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Trong thời gian chung sống anh và chị Huỳnh Thị Nh1 không có tài sản chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ thu, nợ trả: Trong thời gian chung sống anh và chị Huỳnh Thị Nh1 không có nợ ai và cũng không có ai nợ vợ chồng anh chị, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn là chị Huỳnh Thị Nh1 được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, đã hết thời hạn theo quy định pháp luật mà chị Nh1 không có văn bản trình bày ý kiến của mình về yêu cầu ly hôn của anh Trần Văn Nh. Đồng thời, Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn là chị Huỳnh Thị Nh1 vắng mặt không lý do nên không tiến hành hòa giải được, cũng như nghe ý kiến của chị Nh1 về yêu cầu ly hôn của anh Nh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Quan hệ tranh chấp giữa anh Trần Văn Nh và chị Huỳnh Thị Nh1 là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Xin ly hôn”, bị đơn có nơi cư trú tại ấp M, xã Tr, huyện C, tỉnh Cà Mau nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn là chị Huỳnh Thị Nh1 vắng mặt không lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Nh1 theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ Luật tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn Nh và chị Huỳnh Thị Nh1 tự nguyện tiến đến hôn nhân, căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân xã Tr, huyện C, tỉnh Cà Mau ký vào ngày 27/4/2015 nên đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa anh Nh và chị Nh1 là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Theo anh Nh trình bày thì thời gian đầu anh và chị Nh1 chung sống hạnh phúc, thời gian gần đây anh và chị Nh1 phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên bất hòa, cự cãi với nhau, hôn nhân không còn hòa hợp và hạnh phúc, chị Nh1 đã bỏ về cha mẹ ruột sinh sống từ khoảng tháng 02/2024 cho đến nay; nay, xét thấy tình cảm vợ chồng giữa anh và chị Nh1 đã không còn, hôn nhân không còn hạnh phúc và hàn gắn được nữa nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Huỳnh Thị Nh1. Đối với chị Huỳnh Thị Nh1, trong quá trình tố tụng chị Nh1 đã nhận biết được thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập của Tòa án nhưng chị Nh1 không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của anh Trần Văn Nh, như vậy chị Nh1 đã từ bỏ quyền chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ Luật tố tụng dân sự, đồng thời không có thiện chí hàn gắn cuộc hôn nhân đối với anh Nh. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa anh Trần Văn Nh và chị Huỳnh Thị Nh1 đã không còn, anh Nh cương quyết ly hôn, chị Nh1 biết được sự việc nhưng không có thiện chí hàn gắn, cả hai đã không sống chung như vợ chồng từ khoảng tháng 02/2024 cho đến nay, bỏ mặc, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, điều này cho thấy hôn nhân giữa anh Nh và chị Nh1 đã không còn hạnh phúc và đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó, yêu cầu xin ly hôn của anh Nh là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về con chung: Theo anh Trần Văn Nh trình bày thì trong thời gian chung sống anh và chị Huỳnh Thị Nh1 có một người con chung tên Trần Minh Kh, sinh ngày 16/02/2017, hiện đang sống chung với anh. Xét thấy, cháu Kh đang sống ổn định cùng với anh Nh và có nguyện vọng được sống cùng với anh Nh (Tại Biên bản làm việc ngày 02/4/2025), anh Nh có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Kh, chị Nh1 không có ý kiến gì, do đó Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Kh cho anh Nh tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu Kh đủ 18 tuổi.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Trần Văn Nh không yêu cầu chị Huỳnh Thị Nh1 cấp dưỡng nuôi con, chị Nh1 không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về tài sản chung: Theo anh Trần Văn Nh trình bày thì trong thời gian chung sống anh và chị Huỳnh Thị Nh1 không có tài sản chung, anh Nh không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị Nh1 không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Về nợ thu, nợ trả: Theo anh Trần Văn Nh trình bày thì trong thời gian chung sống anh và chị Huỳnh Thị Nh1 không có nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng anh chị, anh Nh không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị Nh1 không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[8] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Các Điều 28, 35, 39, 91, 147, 227, 271, 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;
- - Các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn Nh. Anh Trần Văn Nh được ly hôn với chị Huỳnh Thị Nh1.
- - Về con chung: Giao con chung tên Trần Minh Kh, sinh ngày 16/02/2017 cho anh Trần Văn Nh nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi.
- Chị Huỳnh Thị Nh1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của anh Trần Văn Nh.
- - Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- - Về tài sản chung: Đương sự trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- - Về nợ thu, nợ trả: Đương sự trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- - Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm anh Trần Văn Nh phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được đối trừ số tiền tạm ứng án phí anh Nh đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0019284 ngày 12 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước.
Anh Trần Văn Nh có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Huỳnh Thị Nh1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể ngày nhận được Bản án hoặc từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Ngọc Huyền |
Bản án số 122/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 122/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp xin ly hôn giữa nguyên đơn là anh Trần Văn Nh và bị đơn là chị Nguyễn Thị Nh1
