|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 122/2025/DS-PT Ngày: 19 - 3 - 2025 V/v: Tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu hủy GCNQSD đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Duy Nhiệm;
Các Thẩm phán: Ông Phạm Đình Khánh;
Bà Lê Thị Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Hải An - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
· Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Ngọc - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa để xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 644/2024/TLPT-DS, ngày 09 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu hủy GCNQSD đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 124/2024/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1706/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
-
* Nguyên đơn: Bà Ngô Thị X, sinh năm 1972, vắng mặt;
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng;
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Tạ Ngọc D, sinh 1982, có mặt;
Nơi cư trú: Số D tổ D, thị trấn A, huyện A, thành phố Hải Phòng.
-
* Bị đơn: Bà Ngô Thị T, sinh năm 1965, có mặt;
Nơi cư trú: Thôn C, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng;
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, ông Phạm Lê Minh T1 và ông Lê Đình T2; Công ty L2, ông T2 có mặt; bà H, ông T1 vắng mặt;
-
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bà T: Ông Phan Công T3, Luật sư Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, có mặt.
-
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Ủy ban nhân dân (sau đây gọi tắt là UBND) huyện A, thành phố Hải Phòng;
Địa chỉ: Số A Đ, thị trấn A, huyện A, thành phố Hải Phòng;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn C, chức vụ: Phó Chủ tịch UBND huyện, có đơn xin xét xử vắng mặt.
-
Bà Ngô Thị S, vắng mặt;
Nơi cư trú: Xóm E, thôn L, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng;
Người đại diện theo ủy quyền của bà S: Ông Tạ Ngọc D;
Nơi cư trú: Số D tổ D, thị trấn A, huyện A, thành phố Hải Phòng.
-
Bà Nguyễn Thị P, vắng mặt;
Nơi cư trú: Thô D, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng.
-
Anh Vũ Văn T4, sinh năm 1989 và chị Phạm Thị L, sinh năm 1991, anh T4 có mặt, chị L vắng mặt;
Cùng cư trú: Thôn C, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng,
-
-
* Người kháng cáo: Bà Ngô Thị T, có mặt; bà Ngô Thị X, bà Ngô Thị S đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án phía nguyên đơn trình bày:
Bố bà Ngô Thị X là cụ Ngô Văn T5, sinh năm 1930, mất năm 1999. Khi còn sống có 02 người vợ.
Vợ thứ nhất là Nguyễn Thị N, (chưa rõ năm sinh, mất khoảng năm 1970) có 01 con chung tên là Ngô Thị T.
Vợ thứ hai là Nguyễn Thị C1, sinh năm 1938, mất năm 2022 (là mẹ bà X). Bố bà và mẹ bà có 2 người con chung là bà Ngô Thị X và Ngô Thị S. Ngoài ra, bố mẹ bà có nhận một người con nuôi tên là Ngô Thị P1 nhưng không có giấy tờ chứng minh.
Bố bà và người vợ đầu tiên là cụ Nguyễn Thị N ở trên Đ. Năm 1970 sau khi bà Nguyễn Thị N mất, bố bà lấy mẹ bà và hai người đã mua thửa đất số 1033A, tờ bản đồ số 12, diện tích 490m² tại Thôn C, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng và chuyển về đây sinh sống ổn định cho đến khi chết. Khi còn nhỏ, cả gia đình bà sinh sống trên thửa đất bao gồm 05 người, bao gồm: Bố Mẹ bà, bà Ngô Thị X, bà Ngô Thị S và bà Ngô Thị T (con riêng của bố bà với bà N).
Năm 1999 bố bà mất không để lại di chúc, kể từ thời điểm đó, mẹ bà là bà Nguyễn Thị C1 sinh sống trên thửa đất. Sau đó chị em bà đi lấy chồng và không ở trên thửa đất.
Năm 2022 mẹ bà là Nguyễn Thị C1 mất không để lại di chúc. Kể từ thời điểm đó, bà và em bà (Ngô Thị S) về nhà thắp hương cho bố mẹ thì bị bà Ngô Thị T và con trai không cho vào, chửi bới, đe dọa.
Thời gian gần đây (đầu năm 2023) bà mới biết bà Ngô Thị T đã xin và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N266198 cho thửa đất của gia đình bà mà trên giấy này chỉ ghi chủ sử dụng đất là bà Ngô Thị T vào ngày 24/07/2000.
Hiện nay, trên thửa đất có một ngôi nhà tình thương do chính quyền địa phương hỗ trợ mẹ bà xây dựng. Bà Ngô Thị T và con trai chiếm dụng cả thửa đất mà không chia phần cho bà và em gái bà. Khi bà về thắp hương cho bố mẹ thì con trai bà Ngô Thị T không cho vào, chửi đuổi bà và bà S.
Bà nhiều lần gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp ra UBND xã L Ngày 20/02/2023 UBND xã L đã tiến hành hòa giải theo Đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai của bà nhưng không thành. Nay bà đề nghị Tòa án tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N266198, đồng thời chia di sản thừa kế là thửa đất 1033A, tờ bản đồ số 12, diện tích 490 m² tại thôn C, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng theo quy định của pháp luật cho các đồng thừa kế, bao gồm: Bà (Ngô Thị X); em bà (Ngô Thị S); và chị Ngô Thị T (con riêng của bố bà). Về phần bà Ngô Thị P1 không có yêu cầu phân chia di sản thừa kế, nếu chứng minh được có quan hệ nhân thân thì xin đề nghị phân chia theo quy định của pháp luật.
Phía bị đơn trình bày:
Về quan hệ huyết thống đồng ý như nguyên đơn trình bày.
Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp: Thửa đất 996m² vốn là do tổ tiên bố bà để lại, không phải do mua bán. Từ đầu những năm 1960, sau khi bố mẹ bà kết hôn, do gia đình đông con nên ông bà nội đã cho phép bố mẹ bà chuyển ra đó để ở. Bố mẹ bà đã tôn tạo lại Thửa đất 996m², xây dựng một ngôi nhà tranh vách đất và trồng các loại cây cối, hoa màu trên đất. Năm 1967, mẹ bà là cụ Nguyễn Thị N mất. Năm 1968, bố bà nên duyên của gia đình bà bị đứt mãi, chỉ còn lại 4 vách tường, nền và gia đình phải chuyển về sống cùng gia đình nhà nội ở đình thôn C. Năm 1970, bố bà kết hôn với người vợ thứ hai là bà Nguyễn Thị C1 và có 02 người con chung là Ngô Thị X và Ngô Thị S. Ngoài 03 người con đẻ, bố bà còn có 01 người con nuôi là bà Ngô Thị P1. Sau khi kết hôn với bà C1, bố bà lại đưa bà T và các con (bao gồm cả bà) ra thửa đất 996m² ăn ở, sinh sống ổn định cho tới nay. Thửa đất 996m² là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của bố mẹ bà là ông Ngô Văn T5 và bà Nguyễn Thị N. Năm 1967 mẹ bà mất, thửa đất 996m² theo đó sẽ được chia đôi, một nửa thuộc quyền sử dụng, sở hữu của bố bà và nửa còn lại sẽ là di sản thừa kế do mẹ bà để lại.
Đối với phần đất đã là tài sản thuộc quyền sử dụng, sở hữu của bố bà, vào năm
1995, bố bà và bà C1 bán một nửa thửa đất 996m² cho ông Nguyễn Văn T6 là người cùng thôn để lấy 8 chỉ vàng. Việc mua bán được lập thành văn bản, có đầy đủ chữ ký và xác nhận của địa chính xã, ông T6 cũng đã trực tiếp thanh toán số tiền nhận chuyển nhượng cho bố bà và bà C1. Khoảng tháng 12/1995 âm lịch, các bên đã thực hiện việc đo vẽ, cắm mốc tương đối để phân chia thửa đất 996m². Phần đất đã chuyển nhượng đến nay được ông T6 tách ra thành hai thửa đất số 1033 và 1033B, tờ bản đồ số 12, có tổng diện tích 506m². Toàn bộ quá trình mua bán, chuyển nhượng kể trên, bà X, bà S đều biết và hoàn toàn đồng ý để ông T5, bà C1 bán đất lấy tiền dưỡng già.
Đối với một nửa thửa đất còn lại (là thửa đất số 1033A) là phần di sản do mẹ bà để lại. Đến nay, thời hiệu để yêu cầu chia di sản đã hết, toàn bộ phần di sản do mẹ bà để lại là thửa đất số 1033A sẽ thuộc về bà là người thừa kế đang trực tiếp quản lý, sử dụng. Mặt khác, năm 1998, bố bà đã giao cho bà toàn bộ thửa đất số 1033A, việc này có cụ K, cụ T10 và cụ T9 là các em ruột, em họ bố bà làm chứng, chứng kiến. Tại buổi làm việc ngày hôm đó, bố bà và mọi người đều đồng thuận, thống nhất, không có ý kiến phản đối gì về việc bố bà lập văn bản giao cho bà được quyền quản lý, sử dụng, định đoạt toàn bộ Thửa đất 1033A.
Năm 2000, bà đã thực hiện các thủ tục kê khai, đăng ký cấp sổ và được UBND huyện A, thành phố Hải Phòng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 266198 ngày 24/07/2000 đối với Thửa đất số 1033A, tờ bản đồ số 12, tại Thôn C, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng. Toàn bộ quá trình cấp Giấy chứng nhận, bà C1 biết và cũng không có ý kiến phản đối gì.
Từ khi bố bà mất đến nay, bà là người trực tiếp quản lý, sử dụng đối với thửa đất số 1033A. Hàng năm, gia đình bà nộp đầy đủ nghĩa vụ thuế đất cho Nhà nước. Năm 2010, bà cho anh T4 ở nhờ tại thửa đất số 1033A, kể từ thời điểm đó, bà và anh T4 cùng chăm sóc, phụng dưỡng cho bà C1 (mẹ kế). Năm 2022, bà C1 bị tai biến, liệt nửa người, không thể đi lại, mọi chi phí điều trị, thuốc thang, chăm sóc bà C1 chủ yếu cũng là do mẹ con bà chi trả. Sau khi ở viện về, bà C1 đặt đâu nằm đấy, cũng là do mẹ con bà chăm sóc cho đến khi bà C1 mất vào năm 2022. Trên thửa đất hiện có 02 ngôi nhà, tường rào, mái tôn, sân nền, chuồng lợn... đều do bà, anh T4 cùng gia đình bỏ tiền và công sức tôn tạo, xây dựng, không thuê người đến làm. Cho đến nay, các công trình kể trên vẫn được anh T4 trực tiếp quản lý, sử dụng.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:
Bà Ngô Thị S trình bày: Bà nhất trí với quan điểm của bà X đã trình bày. Đề nghị Tòa án Tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà T, đồng thời chia di sản thừa kế là thửa đất 1033A, tờ bản đồ số 12, diện tích 490 m² tại Thôn C, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng theo quy định của pháp luật
Anh Vũ Văn T4 trình bày: Mẹ anh (Bà Ngô Thị T) là chủ sử dụng Thửa đất số 1033A, tờ bản đồ số 12, tại Thôn C, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 266198, số vào sổ: 01073 do UBND
huyện A (nay là UBND huyện A), thành phố Hải Phòng cấp ngày 24/07/2000 (Thửa đất số 1033A).
Thửa đất số 1033A vốn là một phần tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của ông bà ngoại anh là ông Ngô Văn T5 và bà Nguyễn Thị N. Theo những thông tin anh được biết, trong quá trình sinh sống, ông bà ngoại anh có tài sản chung là một thửa đất diện tích khoảng 996m² (nay là các thửa đất số 1033, 1033A và 1033B, cùng thuộc tờ bản đồ số 12), địa chỉ tại thôn C, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng. Nguồn gốc Thửa đất 996m² là do tổ tiên ông ngoại anh để lại, không phải do mua bán. Sau khi kết hôn, ông bà anh đã chuyển ra sinh sống tại Thửa đất từ khoảng những năm 1962 – 1963. Đến năm 1967, bà ngoại anh là bà Nguyễn Thị N mất. Khoảng năm 1970, ông ngoại anh lấy người vợ thứ hai là bà Nguyễn Thị C1. Năm 1995, ông ngoại anh và bà C1 bán một nửa Thửa đất 996m² cho ông Nguyễn Văn T6. Phần đất bán cho ông T6, hiện nay là các Thửa đất số 1033, 1033B, tờ bản đồ số 12, có tổng diện tích 560 m², địa chỉ tại Thôn C, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng. Cả gia đình tiếp tục quản lý, sử dụng đối với Thửa đất số 1033A. Năm 1998, anh được biết ông ngoại anh đã lập văn bản tặng cho mẹ anh là bà Ngô Thị T toàn bộ Thửa đất số 1033A. Sau khi ông ngoại anh mất vào năm 1999, bố mẹ anh và anh (năm 2010, bố mẹ anh có cho vợ chồng anh ở nhờ trên đất) lần lượt là những người trực tiếp quản lý, sử dụng Thửa đất số 1033A.
Trên thửa đất số 1033A hiện có 2 ngôi nhà tường rào, mái tôn, sân nền, chuồng lợn,.. do gia đình anh xây dựng. Năm 2010, anh cùng với bố mẹ anh đã xây dựng 01 ngôi nhà cấp 4, trước là phụng dưỡng bà C1, sau là để cho gia đình anh ở đó. Năm 2017, do gia đình anh có thêm con nhỏ nên đã xây thêm 01 ngôi nhà nữa trên đất để cho gia đình anh chuyển ra ở. Việc xây dựng do anh và bố mẹ anh tự thực hiện, không thuê người xây dựng. Toàn bộ chi phí, nguyên vật liệu đều do gia đình anh và bố mẹ anh tự chi trả. Ngôi nhà trên hiện do vợ chồng anh quản lý sử dụng. Từ năm 2010, anh và mẹ anh cùng chăm sóc, phụng dưỡng cho bà C1. Năm 2020, bà C1 bị tai biến, liệt nửa người, không thể đi lại, mọi chi phí điều trị, thuốc thang, chăm sóc bà C1 chủ yếu cũng là do mẹ con anh chi trả. Sau khi ở viện về, bà C1 đặt đâu nằm đấy, cũng là do mẹ con anh chăm sóc cho đến khi bà C1 mất vào năm 2022. Việc hậu sự của bà C1 cũng do mẹ con anh lo liệu. Anh đề nghị công nhận quyền sử dụng hợp pháp của anh đối với các tài sản trên đất và bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị X.
Bà Nguyễn Thị P trình bày: Bà X và bà S không được khởi kiện bà T để yêu cầu chia thừa kế. Vì ông T5 và bà C1 đã bán 560m² đất cho ông T6 từ năm 1995. Toàn bộ diện tích đất còn lại hiện nay thuộc quyền quản lý, sử dụng của gia đình bà T. Tuy nhiên, trong trường hợp được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật, bà tự nguyện tặng cho toàn bộ tài sản bà được nhận cho bà Ngô Thị T và đề nghị Quý T7 quyết định giao cho bà Ngô Thị T được toàn quyền quản lý, sử dụng, định đoạt toàn bộ phần đất nêu trên.
UBND huyện A có ý kiến đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tiến hành thẩm định, định giá đối với thửa đất đang tranh chấp xác định: Thửa đất đang tranh chấp có diện tích thực tế là 482,2 m2. Công trình vật kiến trúc, cây cối hoa màu gắn liền với thửa có giá trị là 743.787.418 đồng. Về giá đất, đơn giá theo thị trường đất ở là 15.000.000 đồng/m2 (theo khung giá nhà nước là 790.000 đồng/m²). Về đất vườn tạp có giá 80.000 đồng/m² và không có giao dịch trên thị trường;
Với nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 124/2024/DS-ST, ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã quyết định:
Căn cứ khoản 5 Điều 26; Điều 34; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 45; khoản 3 Điều 144; Điều 147; Điều 163; Điều 164; Điều 165; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 166 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ các Điều 6, 611, 612, 613, 618, 623, 650, 651, 660 Bộ luật Dân sự; Điều 167, Điều 179 Luật Đất đai năm 2013;
Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị X:
-
Giao cho bà Ngô Thị X được quản lý, sử dụng 62m² đất phía giáp mặt đường và nhà ông T6 tại thửa đất số 1033 (trích lục ghi thửa 1033A), tờ bản đồ số 12, tại Thôn C, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng.
Giao cho bà Ngô Thị T được quản lý, sử dụng đối với diện tích 420,2m² tại thửa đất số 1033 (trích lục ghi thửa 1033A), tờ bản đồ số 12, tại Thôn C, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng.
(Vị trí thửa đất có sơ đồ kèm theo)
-
Hủy GCNQSD đất số N266198 do UBND huyện A (nay là huyện A) cấp ngày 24/7/2000 đối với thửa đất số 1033 (phần trích lục ghi thửa số 1033A), tờ bản đồ số 12, diện tích 490m² tại thôn C, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng mang tên Ngô Thị T.
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cấp GCNQSD đất theo quy định.
Ngoài ra, bản án còn quyết định nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng; tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07/10/2024 bị đơn là bà Ngô Thị T; ngày 09/10/2024 người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn Ngô Thị X là ông Tạ Ngọc D và ngày 10/10/2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Ngô Thị S đều có đơn kháng cáo một phần bản án. Tại phiên tòa phúc thẩm, những người kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Các đương sự trình bày:
-
- Phía nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà S trình bày: Chỉ kháng cáo một phần bản án liên quan đến chia di sản thừa kế, nhất trí với bản án sơ thẩm về việc hủy GCNQSD đất, nên không kháng cáo nội dung
này. Cơ bản giữ nguyên ý kiến như đã trình bày tại cấp sơ thẩm; Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết thiếu khách quan, không đảm bảo công bằng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bà X và bà S. Cụ thể: Tòa án cấp sơ thẩm xác định chưa đúng nguồn gốc tài sản, các chứng cứ của phía bị đơn cung cấp đều không hợp pháp, Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản thừa kế của cụ N là quyền sử dụng đất khi chưa được cấp GCNQSD đất, hoặc có các loại giấy tờ theo quy định của pháp luật là không đúng, cụ N chết năm 1967 không có bất kỳ giấy tờ, tài liệu gì chứng minh quyền sử dụng đất nhưng cấp sơ thẩm xác định di sản của cụ N là trái với quy định tại Nghị quyết số 02 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; phía nguyên đơn đã cung cấp chứng cứ để chứng minh thửa đất đang tranh chấp là của cụ T5, cụ C1, cụ N không có quyền gì đối với thửa đất này; mặc dù nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét để chia tài sản trên đất với lý do nguyên đơn có yêu cầu sau khi đã tiếp cận công khai chứng cứ là không đúng; xác định hàng thừa kế không đúng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà X, bà S sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xác định toàn bộ thửa đất đang tranh chấp là di sản thừa kế của cụ T5, cụ C1 để lại; xác định người được hưởng di sản thừa kế theo đúng quy định của pháp luật là bà X, bà S; chia di sản thừa kế theo pháp luật.
- Phía bị đơn có kháng cáo trình bày: Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã chia một phần quyền sử dụng đất cho nguyên đơn mà không xem xét đến hiệu lực của bản giao thừa kế; không xem xét đến công sức của bà T, anh T4; đồng thời tuyên hủy GCNQSD đất đã cấp cho bà T là thiếu căn cứ, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của phía bị đơn; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Bản án sơ thẩm xác định tài sản của cụ T5 đã bán cho ông T6, phần tài sản của cụ N đã hết thời hiệu, nhưng vẫn trích công sức cho cụ T5, cụ C1 là thiếu căn cứ; Tòa án sơ thẩm nhận định cụ T5 và cụ C1 có công chăm sóc con cái là trái pháp luật, nhưng lại không xem xét để trích công sức cho bà T, anh T4 là không đúng. Phía nguyên đơn cho rằng, năm 1970 cụ T5 và cụ C1 mua thửa đất đang tranh chấp nhưng không cung cấp được chứng cứ gì để chứng minh; văn bản phân chia thừa kế lập năm 1996 thể hiện cụ T5, cụ C1 không còn tài sản gì nữa, phần diện tích còn lại là của cụ N nên đã giao cho bà T, văn bản này có chữ ký của cụ T5, cụ C1, có nhiều người làm chứng và xác nhận của chính quyền địa phương. Phía nguyên đơn cho rằng, cụ T5 có tên trong sổ mục kê, sổ địa chính nhưng sổ mục kê, sổ địa chính có hiệu lực phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; nguyên đơn có cung cấp 02 vi bằng của những người làm chứng, nhưng những người làm chứng này đều có qun hệ thân thích với nguyên đơn; hơn nữa tại thời điểm cho là mua đất thì những người làm chứng này chỉ mới 07 tuổi và 10 tuổi nên không thể biết được. Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
bà X, bà S; chấp nhận đơn kháng cáo của bà T, sửa bản án sơ thẩm để bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa; Thư ký và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của các đương sự trong hạn luật định, nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục xét xử phúc thẩm. Tại phiên tòa một số đương sự vắng mặt nhưng đã có lời khai nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Về nội dung: Cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đầy đủ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để chia di sản thừa kế là phần công sức duy tu, bảo quản tài sản của cụ T5, cụ C1 là có căn cứ; tại cấp phúc thẩm không có tình tiết gì mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của các đương sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:
* Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền và thời hiệu khởi kiện: Tòa án cấp sơ thẩm xác định yêu cầu khởi kiện là chia di sản thừa kế và yêu cầu hủy GCNQSD đất; đây là vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Cụ Nguyễn Thị N (vợ trước của cụ T5) chết ngày 26/8/1967; cụ Ngô Văn T5 chết ngày 28/7/1999 và cụ Nguyễn Thị C1 chết ngày 20/10/2022. Nên thời điểm mở thừa kế của các cụ được xác định là ngày các cụ chết. Theo hướng dẫn tại Công văn số 01/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao thì thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế đối với bất động sản là 30 năm được tính từ ngày 10/9/1990 nếu không có tài sản trên đất. Theo khoản 2 Điều 17 Nghị quyết 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20/8/1998 về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01/7/1991; điểm 1 Mục IV Thông tư liên tịch 01 ngày 25/01/1999 của TANDTC, VKSNDTC hướng dẫn Nghị quyết 58 thì thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện là 02 năm 06 tháng (từ 01/7/1996 đến 01/01/1999). Như vậy, tính đến thời điểm nguyên đơn khởi kiện thì thời hiệu chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị N đã hết; trong quá trình giải quyết, bị đơn là bà Ngô Thị T đề nghị áp dụng thời hiệu đối với việc chia di sản thừa kế đối với cụ N. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định thời hiệu chia di sản thừa kế của cụ N đã hết để không xem xét giải quyết chia thừa kế đối với di sản do cụ Nguyễn Thị N để lại là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 36 Pháp lệnh thừa kế năm 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày
19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Cụ T5 chết năm 1999, cụ C1 chết năm 2022. Căn cứ Điều 688, Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thời hiệu mở thừa kế đối với bất động sản là 30 năm, nên đang còn thời hiệu khởi kiện. Ngoài yêu cầu chia di sản thừa kế đương sự còn đề nghị xem xét đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà UBND cấp huyện đã cấp cho các đương sự trong vụ án; đây là quyết định hành chính cá biệt của UBND cấp huyện trong lĩnh vực quản lý đất đai nên thuộc thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng thụ lý, giải quyết theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định tại Điều 32 Luật Tố tụng hành chính và khoản 5 Điều 26, Điều 34, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về xác định tư cách đương sự tham gia tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm một số đương sự vắng mặt nhưng đã có người đại diện theo ủy quyền có mặt, hoặc có đơn xin xét xử vắng mặt, hoặc đã được tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ là đúng quy định tại Điều 227; Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Về nội dung: Xét kháng cáo của các đương sự, thấy:
[3] Xét nguồn gốc thửa đất 1033A tờ bản đồ 12 diện tích 490m², tại thôn C, xã L, huyện A, thành phố H, thấy: Căn cứ hồ sơ quản lý đất đai qua các thời kỳ thể hiện, thửa đất đang tranh chấp có nguồn gốc tách ra từ thửa đất số 1033, tờ bản đồ số 12 có diện tích 996m². Theo kết quả xác minh tại địa phương, cũng như lời trình bày của những người trong gia đình cụ T5 và những làm chứng là người cao tuổi sinh sống gần thửa đất như cụ M, cụ D1... thì thửa đất này có nguồn gốc của tổ tiên cụ T5 để lại; thời điểm cụ N (vợ trước của cụ T5) còn sống hai vợ chồng đã sống trên thửa đất này, sau đó mới chuyển về sinh sống chung cùng gia đình cụ T5, việc này phù hợp với đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất do cụ T5 lập thể hiện đất có nguồn gốc do ông, cha để lại, cũng như phù hợp với hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ T5 với ông T6 thể hiện nguồn gốc đất là do ông, cha để lại. Sau khi cụ N chết, năm 1970 cụ T5 lấy cụ C1 và cả gia đình chuyển ra thửa đất đang tranh chấp để sinh sống. Năm 1995 cụ T5 và cụ C1 đã bán đi 1 phần thửa đất có diện tích là 550m² cho ông Nguyễn Văn T6 nên hiện tại thửa đất chỉ còn lại diện tích như hiện nay. Phía nguyên đơn cho rằng thửa đất này do cụ T5, cụ C1 mua vào những năm 1970 nhưng không cung cấp được chứng cứ gì để chứng minh, chỉ có lời khai của một số người trong gia đình cụ C1 nghe nói có việc mua đất, nhưng cũng không chứng kiến cụ thể, không biết mua đất của ai. Do đó, với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án chỉ đủ căn cứ xác định thửa đất đang tranh chấp có nguồn gốc từ thửa đất số 1033, diện tích ban đầu là 996m² có từ thời điểm cụ N và cụ T5 cùng chung sống. Theo quy định của pháp luật về Hôn nhân và gia đình năm 1959 thì thửa đất trên là tài sản chung của cụ T5 và cụ N, nên mỗi người được quyền sử dụng với tiện tích ½ thửa đất là 498m². Năm 1967 cụ N chết nên ½ diện tích đất là di sản thừa kế của cụ N; cụ T5 chỉ có
quyền sử dụng đối với ½ diện tích thửa đất là 498m². Sau khi cụ T5 và cụ C1 kết hôn, phần đất này thành tài sản chung của cụ T5 và cụ C1. Tuy nhiên, năm 1995, cụ T5, cụ C1 đã bán đi diện tích đất là 550m² để lấy tiền sinh sống là đã vượt quá phần cụ T5 được hưởng, song không có ai có ý kiến nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định phần đất của cụ C1 và cụ T5 đã hết. Đối với phần diện tích đất 498m² (thực tế là 482,2m²) còn lại là di sản của cụ N, nhưng đã hết thời hiệu chia di sản thừa kế. Theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự phần di sản của cụ N thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản là bà T. Tuy nhiên, sau khi cụ N chết, cụ T5 và cụ C1 sinh sống liên tục trên đất từ những năm 1970 cho đến khi các cụ chết lần lượt là năm 1999 và 2022, hai cụ đã nuôi các con bao gồm cả bà T, bà P và có công sức tôn tạo, làm tăng giá trị quyền sử dụng đất. Vì vậy, để đảm bảo lẽ công bằng cần trích công sức duy tu, tôn tạo cho cụ T5, cụ C1 bằng 1 kỷ phần thừa kế của cụ N. Cụ thể, tại thời điểm cụ N chết thì cụ T5 và cụ N có 01 con chung là bà Ngô Thị T, một người con nuôi là bà Nguyễn Thị P. Do đó, hàng thừa kế thứ nhất của cụ N gồm: Cụ T5, bà T, bà P và 01 kỷ phần thừa kế trích công sức; như vậy, di sản thừa kế được xác định cho 04 kỷ phần (498m² x 4) = 124,5m², nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản thừa kế của cụ T5, cụ C1 còn lại là 124,5m² là có căn cứ.
[4] Về hàng thừa kế: Cụ Ngô Văn T5 và cụ Nguyễn Thị C1 có 02 người con chung là: Bà Ngô Thị X và bà Ngô Thị S. Ngoài ra cụ T5 còn có 1 người con riêng là bà T (con chung với cụ N); cụ T5, cụ N cũng có nhận 1 người con nuôi là bà Nguyễn Thị P. Mặc dù hồ sơ không phản ánh việc cụ T5, cụ C1 nhận nuôi bà P, chỉ có giấy khai sinh đăng ký năm 2018 của bà P có tên mẹ là Nguyễn Thị N, họ tên bố là Nguyễn Văn T8; nhưng các đương sự thừa nhận sau khi cụ T8 kết hôn với cụ C1 thì hai cụ đã sinh sống cùng với các con trên thửa đất đang tranh chấp đến khi các con trưởng thành đi lấy chồng. Như vậy, giữa bà P, bà T và cụ T8, cụ C1 đều có mối quan hệ nuôi dưỡng, qua lại chăm sóc nhau từ khi bà P, bà T còn nhỏ; việc nuôi dưỡng đều được bà con, hàng xóm thừa nhận nên cần xác định là con nuôi thực tế, nên cả bà T, bà P cũng được coi là người thừa kế di sản của cụ T8, cụ C1 để lại. Do đó, hàng thừa kế thứ nhất của cụ T8, cụ C1 gồm bà T, bà P, bà X, bà S như Tòa án cấp sơ thẩm xác định là có căn cứ.
[5] Đối với bản giao thừa kế đất ở ngày 14/12/1996 do phía bị đơn xuất trình, thấy: Trong quá trình giải quyết, bị đơn có cung cấp văn bản về việc được cụ T8 giao thừa kế cho bà T diện tích đất thổ cư 360m², cụ là người hợp pháp đang quản lý và sử dụng. Tuy bản giao thừa kế có thể hiện chữ ký của cụ T8, cụ C1 và những người làm chứng là ông Ngô Văn L1, ông Ngô Văn T9, bà Nguyễn Thị P, bà Ngô Thị T10. Tuy nhiên, nội dung bản giao thừa kế không thể hiện đúng với diện tích đất còn lại là 498m²; hơn nữa, như đã phân tích ở trên thì năm 1995 cụ T8 và cụ C1 đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T6 590m² thuộc quyền sử dụng của mình, phần diện tích còn lại 498m² không thuộc quyền sử dụng hợp pháp của cụ T8, cụ C1, nên việc hai cụ lập bản giao thừa kế để định đoạn phần diện tích đất trên là vượt quá quyền về tài sản; xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của người khác, nên bản giao thừa kế này vi phạm điều cấm,
không làm phát sinh hiệu lực. Do đó, di sản thừa kế của cụ T8, cụ C1 được chia theo pháp luật cho các thừa kế là đúng quy định của pháp luật.
[6] Về tài sản trên đất: Căn cứ kết quả thẩm định, cũng như các đương sự trình bày thì trên thửa đất đang tranh chấp có một số tài sản là nhà và các công trình phụ trợ. Mặc dù các đương sự cho rằng khi còn sống cụ T8 và cụ C1 có 2 gian nhà cấp 4 (trong đó là 1 gian phụ), nhưng khoảng năm 2010, do nhà xuống cấp, hư hỏng nên anh T4 (con bà T) và bà T đã dỡ đi xây dựng lại cho 2 cụ ở. Phía nguyên đơn cho rằng các tài sản trên đất hiện còn một phần là tài sản của cụ T8, cụ C1, nhưng không xác định được cụ thể là tài sản gì, ở đâu cũng như không xuất trình được chứng cứ để chứng minh tài sản trên đất hiện nay là của cụ T8, cụ C1; phía bị đơn không thừa nhận nên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của phía nguyên đơn về chia di sản thừa kế là tài sản trên đất. Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chỉ yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đối với thửa đất số 1033A, tờ bản đồ số 12, không yêu cầu chia di sản là tài sản trên đất. Tại phiên tòa, nguyên đơn mới đề nghị Tòa án xem xét phần tài sản trên đất của cụ T8 và cụ C1 để lại, yêu cầu này nguyên đơn bổ sung sau khi Tòa án đã kết thúc phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên không có căn cứ xem xét.
[7] Về yêu cầu xem xét công sức tôn tạo của bà T và anh T4, thấy: Mặc dù cụ T8 chết năm 1999, nhưng cụ C1 chết năm 2022 và đến năm 2023 thì xẩy ra tranh chấp; sau khi cụ T8 chết thì cụ C1 vẫn sinh sống trên thửa đất cùng với mẹ con bà T; bà T và anh T4 cho rằng mình có công trong việc chăm sóc cụ C1 nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Hơn nữa, như đã phân tích ở trên thì thửa đất 1033A là di sản thừa kế của cụ N đã hết thời hiệu, bà T là con của cụ N đã được Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng gần hết phần đất của cụ N; quá trình sử dụng, bà T và anh T4 đã được hưởng lợi từ việc sử dụng đất, cụ C1 chỉ chết sau 01 năm đã phát sinh tranh chấp, nên thời gian bà T, anh T4 trực tiếp quản lý không nhiều và đã được hưởng phần lớn diện tích đất, nên không có căn cứ để trích công sức cho anh T4, bà T.
[8] Về phương pháp chia di sản thừa kế: Như đã phân tích ở trên, cụ T8, cụ C1 chết không để lại di chúc hợp pháp, nên di sản được chia theo pháp luật; xác định hàng thừa kế thứ nhất của hai cụ là 04 người, gồm: Bà T, bà P, bà X, bà S. Cụ thể di sản thừa kế của cụ T8, cụ C1 được xác định là quyền sử dụng 124,5m² đất, nên mỗi kỷ phần được hưởng là 31,125m² (lấy tròn số là 31m²). Trong quá trình giải quyết vụ án, bà P có ý kiến nếu được chia sẽ để lại cho bà T phần mình được hưởng; bà S có ý kiến giao phần mình được chia cho bà X. Nên bà X được quản lý, sử dụng phần diện tích đất là 62m²; bà T được quản lý, sử dụng tổng diện tích là 420,2m² gồm phần diện tích đất 62,5m² và 357,7m². Căn cứ hiện trạng thửa đất và để đảm bảo sinh hoạt cho các bên nên giao phần đất cho bà X ở vị trí mặt đường giáp nhà ông T6 là phù hợp.
[9] Về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Do yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn được chấp nhận nên cần hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N266198 do UBND huyện A (nay là huyện A) cấp ngày 24/7/2000 đối với
thửa đất số 1033 (phần trích lục ghi thửa số 1033A), tờ bản đồ số 12, diện tích 490m² tại thôn C, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng mang tên Ngô Thị T.
Tổng hợp các phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng quy định của pháp luật, đã xác định đúng di sản thừa kế và chia thừa kế di sản đúng quy định của pháp luật; đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của các đương sự; tại cấp phúc thẩm không có thêm tình tiết gì mới, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các đương sự; đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ.
[10] Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[11] Về án phí: Kháng cáo không được chấp nhận, nên những người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của các đương sự, gồm: Nguyên đơn là bà Ngô Thị X (do ông Tạ Ngọc D làm đại diện), bị đơn là bà Ngô Thị T và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Ngô Thị S; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 124/2024/DS-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Bà Ngô Thị X, bà Ngô Thị T, bà Ngô Thị S mỗi đương sự phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà các đương sự đã nộp theo các biên lai số 0000772, 0000773 cùng ngày 17/10/2024 và số 0000775 ngày 18/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng; xác nhận bà X, bà T, bà S đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Duy Nhiệm |
Bản án số 122/2025/DS-PT ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu hủy gcnqsd đất
- Số bản án: 122/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu hủy GCNQSD đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu hủy GCNQSD đất
