Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 122/2025/DS-PT

Ngày: 18 - 3 - 2025

V/v tranh chấp ranh giới

quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sỹ Danh Đạt.

- Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Ngọc Vạng;

Ông Nguyễn Chí Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trang – Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 618/2024/TLPT-DS ngày 26/11/2024 về Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất;

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 163/2024/DS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 82/2025/QĐ-PT ngày 07 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Trần Thị C, sinh năm 1949;

Địa chỉ: Số I, đường L, Tổ C, khóm M, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Nguyễn Thị K, sinh năm 1940;

Địa chỉ: Số H, đường L, Tổ C, khóm M, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của bà K là: Bà Ngô Thị Kim X, sinh năm 1960. Địa chỉ: Số C, đường L, Tổ C, Khóm C, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (Theo văn bản ủy quyền ngày 15/8/2023).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ngô Thị L, sinh năm 1959 (Xin vắng mặt);
  2. Ngô Thị B, sinh năm 1974;
  3. Ngô Thị S, sinh năm 1968 (Xin vắng mặt);
  4. Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1997 (Xin vắng mặt);
  5. Nguyễn Mai T1, sinh năm 2004 (Xin vắng mặt);

Cùng địa chỉ: Số nhà H, đường L, Tổ C, khóm M, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

6. Ủy ban nhân dân thành phố C;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Phan Thành M – Chức vụ: Chủ tịch UBND thành phố C. Địa chỉ: Số C, đường C, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (Xin vắng mặt).

7. Phan Hữu Đ, sinh năm 1980;

Địa chỉ: Số I, đường L, Tổ C, khóm M, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

8. Phan Hữu N, sinh năm 1984;

Địa chỉ: Số C, đường B, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của anh N là: Bà Trần Thị C, sinh năm 1949. Địa chỉ: Số I, đường L, Tổ C, khóm M, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (Theo văn bản ủy quyền ngày 09/9/2024).

9. Phan Thị Thanh G, sinh năm 1978 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Số H, Tổ B, Khóm C, Phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

- Người kháng cáo: Bà Trần Thị C là nguyên đơn, anh Phan Hữu Đ, chị Phan Thị Thanh G là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Trần Thị C trình bày:

Năm 1988 bà có mua đất và nhà của ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1927 và vợ ông là bà Đỗ Thị X1, sinh năm 1926; địa chỉ: Số nhà C, Tổ A, Tập đoàn A, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Đất có chiều dài 20m, chiều rộng 9m, diện tích 180m², phía Bắc giáp ông Võ Văn K1, phía Đông giáp đường lộ Rạch C, phía Tây giáp sông Cái Tàu Thượng, phía Nam giáp con đường đi xuống sông Cái Tàu Thượng và con đường phía Nam giáp đất của bà Nguyễn Thị K. Mỗi năm vào dịp nghỉ hè cả gia đình bà về quê ở huyện N, tỉnh Nghệ An để chơi. Trong thời gian gia đình bà đi vắng, cán bộ địa chính đến đo đất ở vùng con đường L của phường M hiện nay. Lúc cán bộ đưa cho bà sổ đỏ mới, thu sổ cũ bà thấy diện tích sổ mới nhiều hơn trong giấy mua bán, bà nghĩ cán bộ đo đạc đất của bà dài hơn đất cũ khi mua trước đây. Đến năm 2020, bà làm thủ tục tách thửa đất, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C đến đo chiều rộng không đủ 9m mà chỉ có 8,5m nên có công văn Số 1539 ngày 10/12/2020 trả lại Hồ sơ thì bà biết được bà K đã lấn chiếm đất của bà chiều rộng 0,5m chiều dài đất từ đường lộ chạy thẳng xuống sông dài khoảng 26m. Phần đất bà K chiếm là đất thổ của thửa 93 tờ bản đồ số 7 được UBND thị xã C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 14/10/2003.

Ngày 09/6/1988 ông Hồ Văn T2 (Cha bà C) có làm giấy để lại cho vợ chồng bà được quản lý bảo dưỡng con đường có chiều rộng 1,5m, chiều dài 26m từ đường lộ Rạch C1 chạy thẳng xuống sông Cái Tàu Thượng diện tích 39m². Nguồn gốc con đường này là của cha mẹ ông T2 và ông T2 khai phá ra để đi lại sinh hoạt lấy nước sông để ăn uống, tắm giặt, vận chuyển lúa, khoai qua lại buôn bán.

Bà K đã chiếm:

  • + Đất thổ: 0,5m x 26m = 13m² của thửa 93, tờ bản đồ số 7.
  • + Đất đường đi 39m², đang nằm trong thửa 94, tờ bản đồ số 7 cấp cho bà Nguyễn Thị K.

Tổng cộng là 13m²+ 39m² = 52m².

Vì vậy, bà yêu cầu bà Nguyễn Thị K trả lại diện tích phần đất lấn ranh theo đo đạc thực tế là 13,4m² và tháo dỡ phần nhà cửa trên phần đất chiếm đường đi theo đo đạc thực tế là 34,7m² nằm trong thửa 94, tờ bản đồ số 7 để bà quản lý, sử dụng (Bà C thừa nhận diện tích đất này không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà được cấp).

Các thành viên gia đình bà hiện đang sử dụng đất gồm có: Bà Trần Thị C, anh Phan Hữu Đ, anh Phan Hữu N và chị Phan Thị Thanh G.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị K trình bày:

Nguồn gốc đất của bà được hưởng thừa kế từ chồng là ông Ngô Văn C2. Bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng theo quy định của pháp luật. Bà sử dụng đúng diện tích đất mình được cấp, không có lấn chiếm đất của bà C nên bà không đồng ý trả lại đất theo yêu cầu của của bà C.

Các thành viên gia đình bà K hiện đang sử dụng đất gồm có: Bà Ngô Thị L, sinh năm 1959; Bà Ngô Thị B, sinh năm 1974; Bà Ngô Thị S, sinh năm 1968; Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1997; Chị Nguyễn Mai T1, sinh năm 2004.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Phan Thị Thanh G, anh Phan Hữu Đ và anh Phan Hữu N trình bày:

Thống nhất với trình bày của bà C, không có yêu cầu gì kiến khác.

+ Bà Ngô Thị L, bà Ngô Thị B, bà Ngô Thị S, chị Nguyễn Ngọc T và chị Nguyễn Mai T1 trình bày:

Nguồn gốc thửa đất 194, tờ bản đồ số 7, tại phường M, thành phố C giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho cá nhân bà Nguyễn Thị K là của ông Ngô Văn C2 sử dụng từ trước năm 1975. Sau khi ông C2 chết thì bà K được thừa kế vào năm 1993 và sử dụng cho đến nay. Đất này là của bà K, các bà và các chị chỉ là thành viên trong hộ, cùng sử dụng còn bà K là người có toàn quyền quyết định và xin vắng mặt khi giải quyết vụ án.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 163/2024/DS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh đã xử:

Không chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị C về việc yêu cầu hộ bà Nguyễn Thị K trả diện tích đất 34,7m² trong phạm vi các mốc mốc M, 2A, 3A, C, F, H, M thửa số 94, tờ bản đồ 7, đất tại phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Đình chỉ xét xử yêu cầu của bà Nguyễn Thị K về việc yêu cầu hộ bà Trần Thị C tháo dỡ, di dời bức tường.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị C;

Xác định ranh giới quyền sử dụng đất của hộ bà Trần Thị C tại thửa đất số 93 với đất của hộ bà Nguyễn Thị K tại thửa đất số 94, cùng tờ bản đồ số 7, tại phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp là các đoạn thẳng nối liền các mốc 8B, 7B, 6B, 5B, 4B, 3B, 2B, 1B.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác, quyền và thời hạn kháng cáo, quyền, nghĩa vụ và thời hiệu thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/10/2024 bà Trần Thị C, chị Phan Thị Thanh G và anh Phan Hữu Đ làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết:

  • + Xác định ranh giới và trả lại phần đất diện tích 13,4m² cho hộ bà Trần Thị C đảm bảo chiều ngang đủ 09m, chiều dài từ lộ nhưa đến bờ sông.
  • + Xác định tính pháp lý về thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị K và của bà Trần Thị C, có dấu hiệu giả mạo chữ ký, sai lệch hồ sơ. Làm giảm chiều ngang phần đất của bà C và chiếm dụng phần đất do ông Hồ Văn T2 khai phá làm con đường đi để sinh hoạt hàng ngày của người dân khu vực xung quanh vào quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị K.
  • + Xác định ông Hồ Văn T2 khai phá tạo lối đi sinh hoạt hàng ngày và người dân khu vực xung quanh sử dụng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của mình, không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn phúc thẩm:

  • + Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa đều chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
  • + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của chị G. Không chấp nhận kháng cáo của bà C và anh Đ, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Căn cứ vào “Tờ sang nhượng nhà và huê lợi” ngày 30/5/1988 thể hiện vợ chồng ông Nguyễn Văn B1 và bà Đỗ Thị X1 có chuyển nhượng cho vợ chồng ông Phan Hữu L1 và bà Trần Thị C “một cái nhà lá sàn ván có công tơ điện riêng

và cây cối. Chiều rộng nền 9m chiều dài 20m. Phía trên giáp Võ Văn K2, phía dưới giáp N - T, phía trước giáp lộ Rạch C1. Sau là sông C với giá tiền 300.000,00 đồng”.

Đến năm 1993, bà C làm thủ tục kê khai và được cấp quyền sử dụng đất thửa 1024, tờ bản đồ số 3, diện tích 180m² được UBND thị xã C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 08/6/1993. Đến năm 2003 được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành thửa 93, tờ bản đồ số 7, diện tích 198,8m².

Bà C cho rằng vào năm 2020 bà làm thủ tục tách thửa đất, khi Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C đến đo đạc thì chiều rộng thửa đất của bà không đủ 9m mà chỉ có 8,5m thì bà mới biết bà K đã lấn chiếm đất của bà chiều rộng 0,5m chiều dài đất từ đường lộ chạy thẳng xuống sông khoảng 26m. Vì vậy, bà yêu cầu bà Nguyễn Thị K trả lại diện tích lấn chiếm ranh đất theo đo đạc thực tế là 13,4m² và xác định ranh đất của bà là các đoạn thẳng nối liền các mốc M, H, F, C.

Xét thấy, ranh đất giữa hai bên không thể hiện có vật gì làm ranh cụ thể, bà C chỉ căn cứ vào “Tờ sang nhượng nhà và huê lợi” ngày 30/5/1988 để xác định đất của mình có chiều ngang 9m mà không có chứng cứ chứng minh bà K lấn ranh đất của mình. Trong quá trình sử dụng đất hai bên đều có xây dựng nhà trên một phần ranh đất tranh chấp nhưng không ai phản đối, tranh cản.

Ngoài ra, căn cứ vào Sơ đồ đo đạc ngày 29/7/2024 thì diện tích đất của bà C là 198,1m², trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 198,8m², thiếu 0,7m² (Chưa tính 13,4m² đất tranh chấp). Còn đất của bà K đo đạc thực tế là 177,8m², trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 192m², thiếu 14,2m² (Chưa tính 13,4m² đất tranh chấp). Như vậy, diện tích đất của bà K thiếu nhiều hơn so với đất của bà C. Do đó, không có căn cứ để xác định bà K lấn ranh đất của bà C.

Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào việc các bên sử dụng ranh đất ổn định theo hiện trạng để xác định ranh giới quyền sử dụng đất cho hai bên là có căn cứ.

[2] Đối với diện tích 34,7m² trong phạm vi các mốc M, 2A, 3A, C, F, H, M bà C cho rằng là đường đi thuộc quyền quản lý, sử dụng của gia đình bà theo “Tờ cam đoan” lập ngày 09/6/1988 của ông Hồ Văn T2 (Là cha chồng bà C) để lại cho vợ chồng bà quản lý, nhưng hiện nay bà K đã đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà yêu cầu bà K trả lại phần diện tích 34,7m² đất nêu

trên. Xét thấy, “Tờ cam đoan” nêu trên do ông Hồ Văn T2 tự lập không được cơ quan có thẩm quyền công nhận. Mặt khác, bà C cũng thừa nhận đối với diện tích lối đi này thì từ trước đến nay bà không đăng ký kê khai quyền sử dụng đất. Đồng thời, “Tờ sang nhượng nhà và huê lợi” ngày 30/5/1988 cũng thể hiện phần đất bà C nhận chuyển nhượng vợ chồng ông Nguyễn Văn B1 và bà Đỗ Thị X1 phía dưới tiếp giáp đất của bà K. Như vậy cho thấy, thửa đất số 93 của bà C tiếp giáp với thửa đất số 94 của bà K, không thể hiện diện tích đất lối đi ở giữa hai thửa đất như bà C trình bày. Ngoài ra, diện tích 34,7m² bà K đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nằm trong thửa số 94 và bà K đã sử dụng xây dựng 01 phần căn nhà xây dựng của mình trên phần đất này. Trong quá trình sử dụng đất bà C cũng không có tranh chấp.

Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận việc bà C yêu cầu hộ bà K trả lại 34,7m² đất lối đi nêu trên cho bà C là có căn cứ.

Tại Tòa án cấp phúc thẩm bà C và anh Đ cũng không cung cấp được chứng cứ nào mới để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

[3] Đối với chị Phan Thị Thanh G đã được Tòa án triệu tập để xét xử đến lần thứ hai, nhưng chị vẫn vắng mặt không lý do được xem là từ bỏ kháng cáo của mình.

[4] Xét ý kiến đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên chấp nhận.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của chị G. Không chấp nhận kháng cáo của bà C và anh Đ, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Do giữ nguyên Bản án sơ thẩm nên các đương sự kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Phần của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 147, Điều 148, Điều 91, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 125, Điều 166, Điều 203 Luật đất đai năm 2013, Điều 175 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của chị Phan Thị Thanh G.
  2. Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị C và anh Phan Hữu Đ.
  3. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 163/2024/DS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.
  4. Không chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị C về việc yêu cầu hộ bà Nguyễn Thị K trả diện tích đất 34,7m² trong phạm vi các mốc mốc M, 2A, 3A, C, F, H, M thuộc thửa 94, tờ bản đồ số 7, tại phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
  5. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị K về việc yêu cầu hộ bà Trần Thị C tháo dỡ, di dời bức tường.
  6. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị C về việc yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất.
  7. Ranh giới quyền sử dụng đất của hộ bà Trần Thị C thuộc thửa số 93 với đất của hộ bà Nguyễn Thị K thuộc thửa số 94, cùng tờ bản đồ số 7, tại phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp là các đoạn thẳng nối liền các mốc 8B, 7B, 6B, 5B, 4B, 3B, 2B, 1B.

    Ranh giới quyền sử dụng đất được được xác định theo chiều thẳng đứng từ không gian đến lòng đất, tài sản của bên nào lấn chiếm ranh đất phải di dời ra khỏi ranh đất theo quy định của pháp luật.

    Các đương sự được đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký kê khai, điều chỉnh quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

    (Kèm theo sơ đồ đo đạc ngày 29/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C).

  8. Về án phí:
  • + Bà Trần Thị C và bà Nguyễn Thị K được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  • + Anh Phan Hữu Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm và được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai số 0012858, ngày 04/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh.
  • + Chị Phan Thị Thanh G phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm và được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai số 0012884, ngày 09/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh.

- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:

  • + Bà Trần Thị C phải chịu là 3.223.500 đồng (Đã nộp xong).
  • + Bà Nguyễn Thị K phải chịu 3.223.500 đồng để trả lại cho bà C, do bà C đã tạm ứng trước.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi Nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - TAND thành phố Cao Lãnh;
  • - CCTHADS thành phố Cao Lãnh;
  • - Phòng KTNV-THA TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, VT (N).

TM. HÔI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Sỹ Danh Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2025/DS-PT ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 122/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị C-Nguyễn Thị K
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger