|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 122/2025/DS-PT
Ngày: 13/02/2025
V/v Tranh chấp tài sản chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Quy.
Các Thẩm phán:
- 1/ Bà Vũ Thị Thu Hương.
- 2/ Bà Nguyễn Thị Lan Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thanh Thảo Linh – Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bạch Ngọc Hiếu – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 01 và 13 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 997/2024/DSPT ngày 02 tháng 12 năm 2024, về việc: “Tranh chấp tài sản chung".
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 704/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6606/2024/QĐ-PT ngày 13 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số: 106/2025/QĐPT ngày 06/01/2025, Quyết định tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm số: 564/2025/QĐPT ngày 14/01/2025, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Lê N, sinh năm 1980.
- Bị đơn: Bà Lê Thị Hồng Đ, sinh năm 1954. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị Kim S, sinh năm 1959;
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1942; (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Lê D, sinh năm 1976; (có mặt)
- Bà Nguyễn Thu G, sinh năm 1983; (xin vắng mặt)
- Ông Nguyễn Đông G1, sinh năm 1982; (xin vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1935;
- Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1950.
- Ông Nguyễn Thanh S1, sinh năm 1983 (có đơn xin vắng mặt)
- Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người kháng cáo: Bị đơn - Bà Lê Thị Hồng Đ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Nguyễn Văn Q.
- Người kháng nghị: Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn - Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: 3 T, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trương Duy N1, sinh năm 1998. (có mặt)
Địa chỉ: A X, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Hợp đồng ủy quyền số công chứng: 18870 quyển số 08/2022-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/8/2022 của Phòng C1).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Lê N: Luật sư Trương Nguyễn Công N2 – Công ty L2 – Đoàn luật sư Thành phố H.
Địa chỉ: Lầu C, số A X, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: E T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: số C T, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trương Duy N1, sinh năm 1998. (có mặt)
Địa chỉ: A X, Phường D, quận T Thành phố Hồ Chí Minh. (Hợp đồng ủy quyền số công chứng: 18871 quyển số 08/2022- TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/8/2022 của Phòng C1).
Địa chỉ: 5 ấp B, xã B, huyện H,Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng địa chỉ: E T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: 5 T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Văn N3, sinh năm 1963 (Có mặt)
Cùng địa chỉ: E ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Anh Đ1, sinh năm 1952 (Có mặt)
Cùng địa chỉ: D D, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: 5 ấp T (nay là 5 ấp T), xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Ưu T, sinh năm 1976 (có đơn xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: A L, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn yêu cầu độc lập ghi ngày 17/11/2023, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được, biên bản hoà giải và tại phiên toà người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Trương Duy N1 trình bày:
Phần nhà đất có diện tích 1.113,2m² tại địa chỉ 5 ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 00996 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 23/7/2015 (gọi tắt là “Tài sản”), tôi xin trình bày như sau:
Nguyên tài sản này có nguồn gốc là do ông bà nội của ông N (ông Nguyễn Văn S2 chết ngày 28/10/1985 và bà Nguyễn Thị Đ2 chết ngày 06/12/2005) để lại. Ông bà nội tôi có năm người con chung, gồm: bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn Q, ông Nguyễn Văn G2 (ông G2 đã chết, có vợ là bà Lê Thị Hồng Đ và ba người con gồm: bà Nguyễn Lê D, ông Nguyễn Đông G1 và bà Nguyễn Thu G) và ông Nguyễn Văn H là cha tôi (cha tôi đã chết, có vợ là bà Lê Thị Kim S mẹ tôi). Trước khi chết, ông S2, bà Đ2 không để lại di chúc, do đó các đồng thừa kế phải kê khai di sản thừa kế theo pháp luật. Các đồng thừa kế đã kê khai di sản thừa kế theo pháp luật. Cụ thể, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 00996, do Ủy ban Nhân dân huyện H cấp ngày 23/7/2015 đứng tên các đồng thừa kế kể trên. Sau đó, được cập nhật sang tên ngày 10/10/2015 cho 03 (ba) người, gồm: ông Nguyễn Văn Q, bà Lê Thị Hồng Đ và ông Nguyễn Lê N. Ông Nguyễn Lê N yêu cầu Tòa án công nhận cho ông N được hưởng tài sản chung theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 00996, do UBND huyện H cấp ngày 23/7/2015, được cập nhật sang tên ngày 10/10/2015 cho ông Nguyễn Văn Q, bà Lê Thị Hồng Đ và ông Nguyễn Lê N tương đương với 371,06m2 đất. Đề nghị Tòa án thực hiện phân chia tài sản chung bằng hiện vật (bằng đất) hoặc bằng tiền, hiện kim có giá trị tương đương với phần diện tích 371,06m2 đất ông N được hưởng. Hiện nay bà Lê Thị Kim S xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp tài sản chung” đối với bị đơn bà Lê Thị Hồng Đ thì ông Nguyễn Lê N không có ý kiến gì. Ông Nguyễn Lê N đồng ý với bản đồ hiện trạng vị trí số 106213/TTĐĐBĐ- CNHM lập ngày 22/07/2020 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở T2, chứng thư thẩm định giá số 0470224/CT-TV ngày 14/3/2024 và biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 26/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn để làm cơ sở giải quyết vụ án, và tôi không yêu cầu triệu tập thêm ai tham gia tố tụng trong vụ án này. Đối với chi phí đo vẽ bản đồ hiện trạng vị trí, chứng thư thẩm định giá và thẩm định xem xét tại chỗ ông N tự nguyện chịu.
- Tại bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được, biên bản hoà giải và tại phiên toà người đại diện theo ủy quyền của bị đơn có ông Võ Vương Q1 trình bày như sau:
Ông Nguyễn Văn S2 và vợ Nguyễn Thị Đ2 chết để lại di sản là bất động sản bao gồm (Ông S2 chết vào ngày 28/10/1985, bà Đ2 chết vào ngày 06/12/2005):
- Nhà và đất tọa lạc tại địa chỉ 5 ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, theo thông tin cập nhật mới nhất thì toàn bộ diện tích nêu trên thuộc thửa đất 646, tở bản đồ số 35 (thửa cũ số 158, tờ bản đồ số 9) với tổng diện tích là 1.113,2m² và diện tích xây dựng là 191,4m², theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CA920007 (số vào sổ CH00996) do UBND huyện H cấp ngày 23/7/2015 cho ông Nguyễn Văn Q. Thay đổi chủ sở hữu và cập nhật ngày 10/10/2015 do 3 đồng sở hữu đứng tên gồm có: Nguyễn Văn Q, bà Lê Thị Hồng Đ, ông Nguyễn Lê N.
- Ông Nguyễn Văn S2 và bà Nguyễn Thị Đ2 có 05 người con chung gồm: bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn Q, ông Nguyễn Văn G2 (ông G2 đã chết vào ngày 04/10/2012 có vợ là bà Lê Thị Hồng Đ và ba người con gồm: bà Nguyễn Lê D, ông Nguyễn Đông G1, bà Nguyễn Thu G), và chồng bà S - ông Nguyễn Văn H (ông H đã chết vào ngày 25/8/2002, bà S và ông H có 01 người con chung là ông Nguyễn Lê N).
- Ngày 05/10/2001 tại thời điểm bà Nguyễn Thị Đ2 còn sống, ông Nguyễn Văn H đã bán 1 phần đất thuộc thửa 158 tở bản đồ số 9 nay thuộc thửa mới số 646, tờ bản đồ 35 tọa lạc 52/1 ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh với diện tích chuyển nhượng là 200m² (ngang 10m x dài 20m) cho ông Trần Nhật Q2 với giá chuyển nhượng là 113.000.000đồng. Do đó, trong bản tương phân ngày 24/7/2003 đất và nhà tại số E ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 1.113,2m² và khu đất tại thửa 362 tờ bản đồ số 9 tại E ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh được phân chia như sau:
- Bà Nguyễn Thị L1 và bà Nguyễn Thị L được mẹ tôi phân chia khu đất có tổng diện tích là 1,357m² thuộc thửa 362, tờ bản đồ số 9 tại E ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh sau này được cấp sổ đỏ, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 19/QSDĐ/Q4 do UBND huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/4/2004.
- Ông Nguyễn Văn G2 (chồng bà Đ) được thừa hưởng khoảng 460m² ở vị trí giữa khu đất; trên đó có căn nhà số E ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Văn Q được thửa hưởng khoảng 400m² ở vị trí bên phải giáp ranh nhà số E của ông Kiều Đức T1. Ông Nguyễn Văn H (Nguyễn Lê N, người thừa kế duy nhất) được thừa hưởng khoảng 290m² ở vị trí bên trái giáp ranh nhà số E của bà Nguyễn Thị C.
- Năm 2015 tất cả các đồng thừa kế và các thừa kế thế vị của ông Nguyễn Văn S2 và bà Nguyễn Thị Đ2 đã thực hiện các thủ tục phân chia di sản thừa kế tại Văn phòng C2. Theo đó bà Nguyễn Thị L1 và bà Nguyễn Thị L đồng ý tặng cho ông Nguyễn Văn Q phần di sản mà mình được hưởng của ông Nguyễn Văn S2 và bà Nguyễn Thị Đ2 chết để lại. Bà Nguyễn Lê D, ông Nguyễn Đông G1 và bà Nguyễn Thu G đồng ý tặng cho bà Lê Thị Hồng Đ phần di sản mà mình được hưởng. Bà Lê Thị Kim S đồng ý tặng cho ông Nguyễn Lê Nguyên P di sản mà chồng mình được hưởng. Vì vậy trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA920007 (số vào sổ CH0996) do UBND huyện H cấp ngày 23/7/2015 đã cập nhật thay đổi chủ sở hữu, 03 người đồng sở hữu đứng tên gồm có: Nguyên Văn Q3, bà Lê Thị Hồng Đ, ông Nguyễn Lê N.
Việc xác lập phân chia thừa kế tài sản của ông Nguyễn Văn S2 và bà Nguyễn Thị Đ2 chết để lại đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật dân sự năm 2005. Bị đơn bà Lê Thị Hồng Đ đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, xem xét giải quyết vụ việc trên theo đúng quy định của pháp luật và đề nghị:
Tiếp tục và thực hiện nội dung thỏa thuận phân chia di sản thừa kế do Văn phòng C2 chứng thực ngày 15/9/2015 về việc phân chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn S2 và bà Nguyễn Thị Đ2 chết để lại trong đó, tất cả đồng thừa kế và thừa kế thế vị của ông Nguyễn Văn S2 và bà Nguyễn Thị Đ2 đã đồng ý ký tên. Nhà và đất tọa lạc tại địa chỉ 5 ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc thửa 646, tờ bản đồ số 35 với tổng diện tích đất là 1.113,2m² và diện tích xây dựng 191,4m² theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA920007 (số vào sổ CH0996) do UBND huyện H cấp ngày 23/7/2015 đã cập nhật thay đổi chủ sở hữu, 03 người đồng sở hữu đứng tên gồm có: Nguyên Văn Q3, bà Lê Thị Hồng Đ, ông Nguyễn Lê N được quyền quyết định phân chia toàn bộ nhà và đất nêu trên theo hiện trạng ranh đất kèm theo bản vẽ hiện trạng vị trí, cụ thể như sau: ông Nguyễn Văn Q nhận và được quyền đăng bộ quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 381,2m². Ông Nguyễn Lê Nguyên N4 và được quyền đăng bộ quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 301,0m². Bà Lê Thị Hồng Đ nhận và được quyền đăng bộ quyền sở hữu nhà và đất ở được xây dựng phần đất có diện tích 468,7m² (Tất cả đều theo bản vẽ HĐ số 234-3/ĐĐBĐ/GT do Công ty TNHH Đ3 ký ngày 09/01/2016). Phía bị đơn cung cấp thêm Tờ tường trình quan hệ nhân thân ngày 26/5/2015 và Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 15/9/2015 tại Văn phòng C2 chứng minh cho việc bà S và ông N có tham gia nên yêu cầu hủy Tờ tường trình quan hệ nhân thân ngày 26/5/2015 và Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 15/9/2015 tại Văn phòng C2 là không có căn cứ.
Đối với đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim S thì bị đơn không có ý kiến gì.
Bị đơn đồng ý sử dụng chứng thư thẩm định giá số 0470224/CT-TV ngày 14/3/2024 của công ty cổ phần Đ4 và Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 106213/TTĐĐBĐ- CNHM do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở T2 lập ngày 22/07/2020 và Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 26/6/2024 để làm cơ sở giải quyết vụ án. Bị đơn không bổ sung tài liệu, chứng cứ; không yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ; không yêu cầu Tòa án triệu tập đương sự khác, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác.
- Tại bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được, biên bản hoà giải ông Nguyễn Văn Q trình bày:
Cha tôi là ông Nguyễn Văn S2 (chết năm 1985) và mẹ tôi là bà Nguyễn Thị Đ2 (chết năm 2005) có 05 người con gồm: bà Nguyễn Thị L1; bà Nguyễn Thị L; tôi là Nguyễn Văn Q; ông Nguyễn Văn G2 (chết năm 2012, ông gặp có vợ là Lê Thị Hồng Đ và 03 con gồm bà Nguyễn Lê D, ông Nguyễn Đông G1, bà Nguyễn Thu G); ông Nguyễn Văn H (chết năm 2002, ông H có vợ là bà Lê Thị Kim S và 01 con ông Nguyễn Lê N). Cha mẹ tôi có để lại di sản như sau: năm 1960 cha mẹ tôi có mua phần đất 800m² tọa lạc ấp T, xã B, huyện H, năm 1974 cha mẹ tôi có dựng trên đất này 01 căn nhà tạm không số và tạm giao cho bà Nguyễn Thị L1 quản lý nhà đất. Đến năm 1976 bà Nguyễn Thị L1 có mua riêng 01 phần đất khác khoảng 557m² liền kề với phần đất 800m² do cha mẹ tôi tạo lập và bà L1 đăng ký kê khai toàn bộ phần đất diện tích 1.357m². Năm 1976 căn nhà tạm của cha mẹ để lại bị hư hỏng nặng không thể sử dụng được nữa nên bà L1 phải dỡ bỏ và xây dựng căn nhà số E ấp T, xã B, huyện H, nhà số E là tài sản riêng của bà L1.
- Hiện nay bà Nguyễn Thị L1 đã được Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 19/QSDĐ ngày 01/4/2004 đối với phần đất diện tích 1.357m² (trong đó có phần đất 800m² do cha mẹ tôi tạo lập), năm 1971 cha mẹ tôi có mua phần đất diện tích 1.420m² (hiện trạng phần đất còn lại diện tích 1.113,2m²) thuộc thửa 646 tờ bản đồ số 35 tọa lạc tại ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến ngày 05/10/2001 ông Nguyễn Văn H có chuyển nhượng bằng giấy tay phần đất 200m² nằm trong phần đất 1.420m² thuộc thửa 646 tờ bản đồ số 35 cho ông Trần Nhật Q2 với giá chuyển nhượng 113.000.000đồng, nên phần đất còn lại diện tích là 1.220m² (hiện trạng phần đất còn lại diện tích 1.113,2m² thuộc thửa 646 tờ bản đồ số 35); thời điểm này mẹ tôi bị bệnh nặng nên tôi không biết mẹ tôi có đồng ý việc chuyển nhượng đất này của ông Nguyễn Văn H không. Cha mẹ tôi chết không để lại di chúc. Năm 2012, các chi trong gia đình thống nhất thỏa thuận phân chia phần đất 800m² tọa lạc tại ấp T, xã B, huyện H giao cho bà Nguyễn Thị L1 và bà Nguyễn Thị L quản lý sử dụng; phần đất 1.113,2m² thuộc thửa 646 tờ bản đồ số 35 giao cho 03 chi gồm: ông Nguyễn Văn Q (diện tích 385m²), ông Nguyễn Văn H (diện tích 290m²), ông Nguyễn Văn G2 (diện tích 438,2m²) quản lý sử dụng. Lý do ông Nguyễn Văn H chỉ được chia phần đất 290m² vì trước đây khi ông Nguyễn Văn H còn sống đã bán phần đất diện tích 200m². Nay bà S có thay đổi yêu cầu khởi kiện và ông Nguyễn Lê N có yêu cầu độc lập và yêu cầu Tòa án công nhận cho ông Nguyễn Lê N được hưởng tài sản chung theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 00996, do UBND huyện H cấp ngày 23/7/2015, được cập nhật sang tên ngày 10/10/2015 cho ông Nguyễn Văn Q, bà Lê Thị Hồng Đ và ông Nguyễn Lê N tương đương với 371,06m2 đất thì tôi không đồng ý. Tôi cung cấp thêm bản photo các biên lai thu thuế do tôi đóng các ngày 10/10/2022, 06/10/2023, 07/12/2021.
Tôi đồng ý sử dụng chứng thư thẩm định giá số 0470224/CT-TV ngày 14/3/2024 của công ty cổ phần Đ4 và Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 106213/TTĐĐBĐ- CNHM do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở T2 lập ngày 22/07/2020 và Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 26/6/2024 để làm cơ sở giải quyết vụ án.
- Tại bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được, biên bản hoà giải, người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Lê D, bà Nguyễn Thu G, ông Nguyễn Đông G1 là ông Võ Vương Q1 trình bày: Tôi có ý kiến giống như ý kiến của tôi đã trình bày cho bị đơn.
- Tại bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được, biên bản hoà giải, người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị L1 có ông Nguyễn Văn N3 trình bày như sau: Tôi không đồng ý với tất cả yêu cầu của bà Lê Thị Kim S, phần đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 19/QSDĐ/Q4 do UBND huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/4/2004 do bà Nguyễn Thị L1 là mẹ tôi mua lại từ người khác vào khoảng năm 1978 chứ không phải đây là tài sản của ông S2 và bà Đ2. Trong phần đất này chỉ có 800m² do ông bà ngọai tôi để lại, phần diện tích do mẹ tôi mua thêm 557m² nên tôi không đồng ý. Tóm lại tôi không đồng ý với tất cả yêu cầu của nguyên đơn.
- Tại bản tự khai, ông Nguyễn Thanh S1 trình bày: tôi được cô Lê Thị Hồng Đ nhờ đến trông coi nhà và đất thuộc thửa 646, tờ bản đồ số 35 (thửa cũ số 158 tờ bản đồ số 9) toạ lạc tại địa chỉ 5 ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, và tôi hoàn toàn không có liên quan đến vụ án tranh chấp nói trên và tôi xin được phép vắng mặt trong tất cả các buổi hoà giải và xét xử.
- Tại bản tự khai, ông Lê Ưu T là người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày: Ngày 01/4/2004 Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 19/QSDĐ diện tích 1375m² thửa số 362, tờ bản đồ số 9 (TL 1998) xã B, cho bà Nguyễn Thị L1. Ngày 23/7/2015 Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH00996 cho ông Nguyễn Văn Q (người đại diện). Việc Ủy ban nhân dân huyện H cấp hai giấy chứng nhận nói trên là đúng trình tự thủ tục quy định, Ủy ban nhân dân huyện H không cung cấp tài liệu chứng cứ.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 704/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim S theo đơn đề nghị rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện ghi ngày 03/7/2024.
- Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Lê N theo đơn yêu cầu độc lập ghi ngày 17/11/2023.
- Xác định tài sản chung của bà Lê Thị Hồng Đ, ông Nguyễn Văn Q, ông Nguyễn Lê N là quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 646 tờ bản đồ số 35 tại địa chỉ 5 ấp T xã B, huyện H Thành phố Hồ Chí Minh, diện tích 1.113,2 m² trong đó diện tích xây dựng là 191,4 m² (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CA920007. Số vào sổ cấp GCN: CH 00996 do UBND huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/7/2015 cho ông Nguyễn Văn Q. Thay đổi chủ sở hữu và cập nhật ngày 10/10/2015 do 3 đồng sở hữu đứng tên gồm có ông Nguyễn Văn Q, bà Lê Thị Hồng Đ, ông Nguyễn Lê N) có tổng giá trị là 32.296.415.000 đồng (ba mươi hai tỷ hai trăm chín mươi sáu triệu bốn trăm mười lăm nghìn đồng). Bà Lê Thị Hồng Đ, ông Nguyễn Văn Q, ông Nguyễn Lê N, mỗi người có quyền sở hữu 1/3 tài sản chung trị giá là 10.765.471.667 đồng (Mười tỷ bảy trăm sáu mươi lăm triệu bốn trăm bảy mươi mốt ngàn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn bà Lê Thị Hồng Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Q về việc chỉ đồng ý chia cho ông Nguyễn Lê Nguyên N4 và được quyền đăng bộ quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 301,0m² theo bản vẽ HĐ số 234-3/ĐĐBĐ/GT do Công ty TNHH Đ3 ký ngày 09/01/2016.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật quy định.
Ngày 18/9/2024 bà Lê Thị Hồng Đ có đơn kháng cáo; ngày 25/9/2024 ông Nguyễn Văn Q có đơn kháng cáo.
Ngày 25/9/2024 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn có Quyết định kháng nghị số 05/QĐ – VKS – DS.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm; những người kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm, đồng ý chia quyền sử dụng đất làm ba phần bằng nhau và chia bằng hiện vật; đồng thời yêu cầu tính đến tài sản trên đất là do vợ chồng bà Đ, ông Q tạo lập.
Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ quy định Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng: Ngày 18/9/2024 bà Lê Thị Hồng Đ có đơn kháng cáo; ngày 25/9/2024 ông Nguyễn Văn Q có đơn kháng cáo là trong hạn luật định nên hợp lệ.
Ngày 25/9/2024 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn có Quyết định kháng nghị số 05/QĐ - VKS – DS. Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì việc kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn là còn trong thời hạn kháng nghị.
[2]Về nội dung:
2.1 Xét kháng nghị của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn kháng nghị cho rằng khi phân chia tài sản chung phải dựa vào Tờ tương phân, Phụ lục tương phân, đồng thời tại cấp sơ thẩm các đương sự đồng ý dùng Bản đồ hiện trạng ngày 22/07/2020 làm căn cứ giải quyết vụ án. Như vậy, chỉ có cơ sở công nhận phần của ông N trong phần tài sản chung tương ứng với diện tích 275,3m² (vị trí số 1), cấp sơ thẩm chia đều tài sản chung thành 03 phần, ông N hưởng 01 phần tương ứng 371,06m² và quy giá trị là không có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 14/01/2025, bà Đ, bà Đ1 (đại diện ông Q) là người kháng cáo đã đồng ý chia tài sản chung thành 03 phần đều nhau, tự nguyện không dùng Tờ tương phân, Phụ lục tương phân làm căn cứ phân chia tài sản chung, đồng ý điều chỉnh ranh đất để chia tài sản chung bằng hiện vật. Đây là tự nguyện của các đương sự nên ghi nhận. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn kháng nghị về việc không có căn cứ chia đều tài sản chung là không còn cần thiết nên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh rút kháng nghị đối với nội dung này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Thời điểm xét xử sơ thẩm ngày 11/9/2024, Ủy ban nhân dân Thành phố H chưa ban hành quy định về diện tích tối thiểu được tách thửa theo Luật đất đai 2024. Ngày 31/10/2024 của Ủy ban nhân dân Thành phố H Quyết định 100/2024/QĐ-UBND (có hiệu lực từ ngày ký) quy định diện tích tối thiểu được tách thửa tại Khu vực 3 đối với đất thổ cư (có huyện H) là không thấp hơn 80m², có chiều rộng mặt tiền và chiều sâu thửa đất không nhỏ hơn 5m (sau đây gọi tắt là Quyết định 100).
Căn cứ vào Bản đồ hiện trạng ngày 22/7/2020 thấy rằng thửa đất không vuông vức nhưng chiều rộng mặt tiền đường là 18,06m (6,57m + 9,51m + 1,98m), diện tích tổng thể 1113,2m². Đối chiếu với Quyết định 100/2024 và ý kiến của bà Đ, ông Q về việc đồng ý chỉnh sửa ranh đất để chia tài sản chung bằng hiện vật (không đồng ý bán chia giá trị) thấy rằng hoàn toàn đủ cơ sở để chia bằng hiện vật đối với tài sản chung là quyền sử dụng đất thuộc thửa 646, TBĐ 35, xã B, huyện H theo Giấy chứng nhận số CA920007, số vào sổ CH00996 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 23/7/2015, cập nhật tên ông Q, bà Đ, ông N ngày 10/10/2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn kháng nghị cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm chia tài sản chung bằng giá trị là không đúng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà Đ, ông Q. Xét thấy vấn đề kháng nghị này có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông N không đồng ý nhận hiện vật vì cho rằng thửa đất không thể chia bằng hiện vật là không có căn cứ. Điều 219 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “khi tài sản chung không thể chia được bằng hiện vật thì chủ sở hữu chung có yêu cầu chia có quyền bán phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp các chủ sở hữu chung có thỏa thuận khác”, như vậy khi quyền sử dụng đất đủ điều kiện chia bằng hiện vật, căn cứ thêm ý kiến của bà Đ, ông Q không đồng ý chia giá trị thì yêu cầu được nhận giá trị của ông N là không có căn cứ chấp nhận. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn kháng nghị là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông N có đại diện trình bày nhà thờ đang tồn tại trên phần đất của bà Đ sử dụng có nguồn gốc từ ông S2, bà Đ2 sau này bà Đ có sửa chữa nhưng cụ thể như thế nào thì ông N không biết do ông N không ở tại phần đất đang tranh chấp. Bà Đ, ông Q xác định nhà thờ có nguồn gốc của ông S2, bà Đ2 nhưng nhà thờ đã cũ nát, bà Đ cùng chồng là ông G2 đã xây sửa lại như bây giờ. Như vậy, khi phân chia phải tính đến công sức của vợ chồng bà Đ.
Theo tương phân thì ông S2, bà Đ2 giao nhà 52/1 cho ông G2 (chồng bà Đ) quản lý, làm nơi thờ tự nên ông G2 được nhận phần diện tích nhiều hơn ông Q, ông N. Ông G2, bà Đ đã sửa chữa nhà thờ từ năm 2002, quản lý tôn tạo từ đó đến nay nhưng cấp sơ thẩm chưa xem xét công sức của bà Đ là chưa giải quyết toàn diện vụ án. Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn cho rằng cấp sơ thẩm chưa xem xét công sức xây dựng, sửa chữa nhà thờ của bà Đ đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà Đ là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
2.2 Xét kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bà Đ, ông Q kháng cáo không đồng ý chia giá trị, chỉ đồng ý chia hiện vật. Như đã phân tích tại phần xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn thấy rằng yêu cầu chia hiện vật của bà Đ, ông Q là có căn cứ vì tài sản chung đủ điều kiện để chia bằng hiện vật, phù hợp với Quyết định số 100/2024 của Ủy ban nhân dân Thành phố H.
Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ nguyên đơn yêu cầu chia 371,06m² nhưng không xác định vị trí cụ thể trong tổng 1.113,2m²; các đương sự đều trình bày không có khả năng nhận đất để thanh toán bằng giá trị cho những đồng sử dụng khác. Tài sản trên đất các đương sự khai không thống nhất, nguyên đơn khai nhà đất hiện nay bị đơn đang quản lý, sử dụng là do ông S2, bà Đ2 để lại, bị đơn cho rằng tài sản trên đất là do vợ chồng bị đơn xây dựng, sửa chữa, Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ ai là người tạo lập tài sản này nhưng lại chia đều giá trị cho ba người là không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Với những thiếu sót trên của Tòa án cấp sơ thẩm là thu thập chứng cứ chưa đầy đủ mà tại phiên toà phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo hướng trên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận kháng cáo của bà Đ, ông Q; chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
Do đó, để giải quyết vụ án được khách quan, đảm bảo hai cấp xét xử, cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm và giao về cho Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn để điều tra và xét xử lại.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị Hồng Đ; ông Nguyễn Văn Q.
Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 704/2024/DSST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh. Chuyển hồ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm: không ai phải chịu. Bà Lê Thị Hồng Đ và ông Nguyễn Văn Q là người cao tuổi được miễn nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Quy |
Bản án số 122/2025/DS-PT ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp tài sản chung
- Số bản án: 122/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tài sản chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị Hồng D Chấp nhận kháng nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn
