Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 122/2025/DS-PT

Ngày 10/6/2025

 

V/v “Tranh chấp tài sản thuộc sở hữu chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bé.

Các Thẩm phán: Bà Mai Vương Thảo.

Bà Nguyễn Hữu Thị Hảo Hảo.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Ông Huỳnh Mạnh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 216/2024/TLPT-DS ngày 28 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp chia tài sản thuộc sở hữu chung”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 124/2024/DSST ngày 21 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 117/2025/QĐ-PT ngày 26 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 200/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Võ Thị L. Sinh năm: 1977. Địa chỉ: K đường N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng.
  • - Bị đơn: Ông Trần Đình H. Sinh năm: 1962 và bà Võ Thị L1. Sinh năm 1957. Cùng địa chỉ: Số G đường N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Đều vắng mặt.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan L2. Địa chỉ: Tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng.
  • - Người kháng cáo: Bà Võ Thị L là nguyên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Nguyên đơn bà Võ Thị L trình bày: Vào năm 2003, bà Võ Thị L1 và bà L có chung mua 01 miếng đất với giá 19.000.000 đồng, bà L đã bỏ ra số tiền 9.800.000 đồng chung cùng với bà L1 để mua thửa đất số 27, tờ bản đồ số 56, diện tích 107,7m², địa chỉ: tổ A, (tổ M), phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Hiện nay, thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và môi trường thành phố Đ cấp ngày 22/8/2013 đứng tên ông Trần Đình H và bà Võ Thị L1. Tuy nhiên, nhiều lần bà yêu cầu bà L1, ông H phân chia cho bà ½ giá trị lô đất trên nhưng bà L1, ông H không thực hiện nên bà đã khiếu nại đến UBND phường H để giải quyết và tại UBND phường bà L1 đồng ý trả cho bà số tiền 100.000.000 đồng. Nhận thấy quyền lợi của mình không được bảo đảm, bà Võ Thị L khởi kiện yêu cầu buộc ông Trần Đình H và bà Võ Thị L1 phải trả cho bà L ½ diện tích lô đất tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 56, tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng đã mua chung với bà L là 53.50m² hoặc trả cho bà L số tiền 200.000.000 đồng tương ứng với ½ diện tích đất trên. Tại phiên tòa, bà Võ Thị L yêu cầu ông Trần Đình H và bà Võ Thị L1 phải trả cho bà L ½ diện tích lô đất, trả bằng tiền theo kết quả định giá thị trường là 1.830.000.000 đồng/2 = 915.000.000 đồng.

- Bị đơn bà Võ Thị L1 trình bày: Bà Võ Thị L là cháu gọi bà L1 là cô ruột và là con gái của anh ruột bà L1. Năm 1994, bà L vào ở nhà bà L1 để giữ con cho bà L1, đến năm 2001, bà L xin ra ở riêng. Vào năm 2000, vợ chồng bà L1, ông H có mua 01 lô đất của ông Phan T và bà Mai Thị Xuân L3 với giá 41.000.000 đồng, tại tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Thửa đất lúc này là hố sâu, bà L1 phải bồi đắp như hiện trạng bây giờ. Năm 2004, vợ chồng bà L1, ông H xây dựng làm nhà cấp 4. Năm 2013, vợ chồng bà L1, ông H lập thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận và được Sở T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 065832, ngày 22/8/2013, mới xác định là thửa đất số 27, tờ bản đồ số 56, diện tích 107.7m², địa chỉ: tổ A, (tổ M), phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng.

Bà L1 khẳng định không có việc bà L3 chung tiền mua đất, vì khi làm nhà bà L1 có bảo với bà L3 gửi cho bà L1 số tiền 10.000.000 đồng, sau này bán nhà sẽ trả 20.000.000 đồng. Mấy tuần sau bà L3 đưa cho bà L1 số tiền 9.800.000 đồng, đến năm 2005, bà L3 lập gia đình và có lấy lại số tiền 800.000 đồng. Sau đó có lấy thêm 3 lần mỗi lần 200.000 đồng, tổng cộng là 1.400.000 đồng. Năm 2017, bà L3 có đưa thêm cho bà L1 số tiền 800.000 đồng. Tổng cộng bà L3 đã gửi cho bà L1 là 9.200.000 đồng. Việc bà L3 yêu cầu ông Trần Đình H và bà Võ Thị L1 phải trả cho bà L3 ½ diện tích lô đất đã mua chung với bà L3 là 53.50m² hoặc trả cho bà L3 số tiền theo kết quả định giá thị trường là 1915.000.000 đồng, thì bà L1 không đồng ý.

Bà L1 thừa nhận còn giữ của bà L3 số tiền 9.200.000 đồng, nhưng xác định đây là tiền bà L3 gởi, không có việc chung mua đất và do số tiền này bà giữ từ năm 2004 đến năm 2017, nên bà L1 đồng ý trả lại theo chêch lệch giá trị tổng số tiền 100.000.000 đồng. Theo kết quả định giá thì lô đất có diện tích 107,7m², trị giá 1.830.000.000 đồng.

Với nội dung nói trên, Bản án dân sự sơ thẩm số: 124/2024/DSST ngày 21 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã xử và quyết định: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, và điểm a khoản 1 Điều 39 điều 147, 227 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Các Điều 116, 217, 218, 219, 468 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị L đối với ông Trần Đình H, bà Võ Thị L1 về việc “Chia tài sản thuộc sở hữu chung”. Xử:
    1. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị L đối với ông Trần Đình H, bà Võ Thị L1 về việc “Chia tài sản thuộc sở hữu chung” đối với ½ giá trị lô đất tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 56, diện tích 107,7m², địa chỉ: tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 065832, do Sở T cấp cho ông Trần Đình H bà Võ Thị L1 ngày 22/8/2013.
    2. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Võ Thị L1 về việc hoàn trả cho bà Võ Thị L số tiền 100.000.000 đồng. Thời gian thực hiện là ngày 21/11/2024.
    3. Khi bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thực hiện thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
  2. Về tiền chi phí tố tụng: Tổng cộng: 13.000.000 đồng, trong đó, tiền xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng, tiền thẩm định giá tài sản: 10.000.000 đồng, do HĐXX bác yêu cầu khởi kiện nên nguyên đơn bà Võ Thị L phải chịu theo quy định tại Điều 157, 158, 161, 164, 165 Bộ luật tố tụng dân sự (bà L đã nộp và đã chi xong).
  3. Về án phí DSST: Buộc bà Võ Thị L phải chịu số tiền 39.450.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà L4 đã nộp là 5.000.000 đồng theo biên lai thu số 0000353 ngày 01 tháng 12 năm 2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, số tiền còn lại bà Võ Thị L phải nộp là 34.450.000 đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn thông báo quyền kháng cáo cho các đương sự biết theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/9/2024, bà Võ Thị L có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm vì bà cho rằng số tiền 9.800.000 đồng là số tiền bà góp mua đất chung với ông Trần Đình H và bà Võ Thị L1. Việc ông Trần Đình H, bà Võ Thị L1 tự nguyện trả lại bà số tiền 100.000.000 đồng tại thời điểm hiện tại so với ½ giá trị lô đất tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 56, diện tích 107,7m², địa chỉ: tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 065832, do Sở T cấp cho ông Trần Đình H, bà Võ Thị L1 ngày 22/8/2013 là ảnh hưởng đến quyền lợi của bà nên bà đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Trần Đình H, bà Võ Thị L1, ông Phan L2 đã được triệu tập hợp lệ đến lần hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét kháng cáo của bà Võ Thị L thì thấy: Bà Võ Thị L cho rằng năm 2004, bà có góp số tiền 9.800.000 đồng mua chung với bà Võ Thị L1, ông Trần Đình H 01 lô đất tại tổ A, K đường N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng với giá là 19.000.000 đồng, nhưng tại cấp sơ thẩm cũng như cấp phúc thẩm bà L không cung cấp được chứng cứ chứng minh về việc bà chung mua với bà L1, ông H lô đất trên. Trong khi đó, ông Trần Đình H, bà Võ Thị L1 không thừa nhận và cho rằng quyền sử dụng đất tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 56, diện tích 107,7m², địa chỉ: tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 065832, do Sở T cấp ngày 22/8/2013 đứng tên ông Trần Đình H, bà Võ Thị L1, có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của ông Phan T và bà Mai Thị Xuân L3 với giá 41.000.000 đồng vào năm 2000, được thu thập tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận C cung cấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhưng đến năm 2003, bà Võ Thị L mới cho rằng bà L chung mua đất với bà L1 và cũng không đưa ra tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc lô đất trên bà L mua chung với ông H, bà L1 nên không có căn cứ để chứng minh việc bà L góp tiền chung mua đất với ông H, bà L1. Tại vi bằng do bà L cung cấp cuộc đối thoại giữa bà L với vợ chồng ông H, bà L1 không thể hiện rõ nội dung bà L1 thừa nhận thửa đất trên là mua chung cùng với bà L. Tại phiên tòa bà L không yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết của ông Phan T trong hợp đồng chuyển nhượng năm 2000. Do thời gian ông Phan T chuyển nhượng cũng như giá chuyển nhượng lô đất là không phù hợp với lời khai của bà L nên không có cở sở để HĐXX phúc thẩm chấp nhận nội dung kháng cáo của bà Võ Thị L.

[2.2] Đối với số tiền bà L1 tự nguyện trả cho bà L để bù trừ lại số tiền mà bà L đã gởi cho bà L1 từ thời điểm năm 2004 còn lại là 9.200.000 đồng đến năm 2025 là 100.000.000 đồng. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của bà Võ Thị L1 nên được HĐXX chấp nhận.

[3] Từ những nhận định trên, HĐXX xét thấy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Võ Thị L.

[4] Về án phí DSST: Bà Võ Thị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[5] Do không chấp nhận kháng cáo nên bà Võ Thị L phải chịu án phí DSPT.

[6] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm với nội dung không chấp nhận kháng cáo của bà Võ Thị L.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 116, 217, 218, 219, 468 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Võ Thị L.
  2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 124/2024/DSST ngày 21 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
  3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị L đối với ông Trần Đình H, bà Võ Thị L1 về việc “Chia tài sản thuộc sở hữu chung” đối với ½ giá trị lô đất tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 56, diện tích 107,7m², địa chỉ: tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BN 065832, do Sở T cấp ngày 22/8/2013 đứng tên ông Trần Đình H, bà Võ Thị L1. Trị giá ½ thửa đất là: 915.000.000 đồng.

    3.2. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Võ Thị L1 về việc hoàn trả cho bà Võ Thị L số tiền 100.000.000 đồng. Thời gian trả tiền hạn cuối đến ngày 21/11/2024.

    3.3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  4. Về tiền chi phí tố tụng: Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên bà Võ Thị L phải chịu theo quy định tại Điều 157, 158, 163, 164, 165 Bộ luật tố tụng dân sự. (Bà L đã nộp và đã chi xong).
  5. Án phí DSST: Buộc bà Võ Thị L phải chịu số tiền 39.450.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp là 5.000.000 đồng theo biên lai thu số 0000353 ngày 01/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu. Bà Võ Thị L còn phải nộp là 34.450.000 đồng.
  6. Án phí DSPT: Bà Võ Thị L phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009059 ngày 12/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng;
  • - Chi cục THA dân sự quận Liên Chiểu;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Bé

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2025/DS-PT ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp tài sản thuộc sở hữu chung

  • Số bản án: 122/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tài sản thuộc sở hữu chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Linh-Hùng, Lương
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger