Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Đ B

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 122/2024/HSST.

Ngày: 21/5/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Văn Lương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nông Trung Kiên;
  2. Bà Lò Thị Thanh Bình.

- Thư ký phiên toà: Bà Lò Thị Hòa – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đ B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Vi Thị Hoàng Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 21/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 119/2024/TLST - HS ngày 05/04/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2024/QĐXXST - HS, ngày 08/5/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lường Thị K, tên gọi khác: Không, sinh năm: 1970, tại Điện Biên.

Nơi cư trú: Bản P B, xã T A, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lường Văn Thâng (Đã chết) và bà: Lường Thị Đôi (Đã chết); chồng: Vì Văn Lả, sinh năm 1968 và 03 con, con lớn sinh năm 1991, con nhỏ sinh năm 2005; Tiền án: Không; tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • -Ngày 20/12/1999 bị TAND tỉnh Lai Châu xử phạt 03 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, ngày 02/9/2000 chấp hành xong, nay đã được xóa án tích.
  • -Ngày 21/02/2001 bị TAND huyện Đ B xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, ngày 06/02/2003 chấp hành xong, nay đã được xóa án tích.
  • -Ngày 17/8/2007 bị TAND huyện Đ B xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, ngày 14/6/2011 chấp hành xong, nay đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giam, tạm giữ từ ngày 19/12/2023 cho đến nay "Có mặt".

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 19/12/2023, bị cáo dắt trâu từ nhà đến khu vực ruộng ở Bản P B, xã T A, huyện Đ B để chăn thả và tìm mua ma túy về bán kiếm lời. Bị cáo gặp và mua được 01 gói Heroine với giá tiền là 2.000.000 đồng của một người phụ nữ dân tộc Thái khoảng 50 tuổi (không biết tên và địa chỉ). Sau đó bị cáo cất gói Heroine vào túi quần đang mặc rồi đi về nhà. Trên đường về thì gặp một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 50 tuổi (không biết tên và địa chỉ) hỏi mua 200.000 đồng Heroine, bị cáo đồng ý và dùng tay cấu 01 ít Heroine đưa cho người đàn ông rồi nhận tiền cất vào túi quần đang mặc cùng với số Heroine còn lại rồi đi về. Hồi 13 giờ 15 phút cùng ngày, khi bị cáo đang ở nhà thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra về tội phạm Kinh tế và ma túy Công an huyện Đ B phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên phải bị cáo đang mặc 01 túi ni lon màu đen bên trong có 04 gói ni lon màu trắng có chứa 20,91 gam Heroine và 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng do bán Heroine mà có.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng ngày 19/12/2023 đã xác định:

Số chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo có khối lượng là 20,91 gam;

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản kết luận giám định số: 79/KL-KTHS ngày 28/12/2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lường Thị K gửi giám định là Heroine;

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng giám định nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 61/CT-VKSHĐB ngày 04/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B đã truy tố bị cáo Lường Thị K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điểm i Khoản 2 Điều 251/BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Đ B vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm i Khoản 2 Điều 251/BLHS, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51/BLHS; Điều 38/BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 năm 03 tháng đến 13 năm tù. Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a Khoản 2, Điểm a Khoản 3 Điều 106/BLTTHS: Tịch thu, tiêu hủy 20,91 gam Heroine, gửi giám định toàn bộ ( hoàn lại mẫu vật sau khi giám định 14,8 gam); trả lại cho bị cáo số tiền 200.000 đồng.

Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS, Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội bị cáo được miễn án phí HSST. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và Luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Tôi biết hành vi của tôi là vi phạm pháp luật, tôi xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình của tôi, cho tôi xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi của bị cáo: Hồi 12 giờ ngày 19/12/2023 bị cáo đi mua ma túy về để bán kiếm lời, trên đường về thì có bán cho một người đàn ông không biết tên và địa chỉ 01 ít Heroine được 200.000 đồng. Hồi 13 giờ 15 phút cùng ngày, khi bị cáo đang ở nhà thì bị bắt quả tang 01 gói Heroine có khối lượng 20,91 gam và 200.000 đồng. Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội qua tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, kết luận giám định, kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố. Với hành vi và khối lượng ma túy bị thu giữ thì bị cáo đã phạm vào tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điểm i Khoản 2 Điều 251/BLHS. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.

[2]. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội; đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bởi vì, ma túy là một hiểm họa của nhân loại, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác. Chính vì thế mà Nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là rất nghiêm trọng, nên cần phải xử lý theo quy định của pháp luật.

[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51/BLHS.

Để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, cần chấp nhận.

[4]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an huyện Đ B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy

3

tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Khoản 5 Điều 251/BLHS là phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy bị cáo hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do bị cáo mua của một phụ nữ dân tộc Thái khoảng 50 tuổi ( không biết tên, địa chỉ), nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ B không đủ cơ sở làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với số tiền 200.000 đồng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều khai và thừa nhận là số tiền này là do bị cáo bán ma túy cho một người đàn ông mà có.

Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng của vụ án được thu giữ. Bị cáo thành khẩn khai báo và được Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS. Do vậy, việc bị cáo tự khai số tiền 200.000 đồng là do bị cáo bán mà túy mà có là có cơ sở và Hội đồng xét xử cần phải chấp nhận.

[7]. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo được miễn án phí HSST.

[8]. Vật chứng: 20,91 gam Heroine, gửi giám định toàn bộ (hoàn lại mẫu vật sau khi giám định là 14,8 gam); cần tịch thu tiêu hủy và tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có; theo quy định tại Điểm b, c Khoản 1 Điều 47/BLHS, Điểm a, b Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm i Khoản 2 Điều 251; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51/BLHS; Điều 38/BLHS.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lường Thị K phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lường Thị K 12 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/12/2023.

3. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo được miễn án phí HSST.

4

4. Về vật chứng: Căn cứ Điểm b, c Khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, b Khoản 2 Điều 106/BLTTHS: Tịch thu, tiêu hủy 20,91 gam Heroine, gửi giám định toàn bộ (hoàn lại mẫu vật sau khi giám định là 14,8 gam) và tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có.

(Vật chứng đã được công an huyện Đ B chuyển cho chi cục thi hành án dân sự huyện Đ B ngày 05/4/2024).

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333/BLTTHS; Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND T Điện Biên;
  • - VKSND H Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh ĐB.
  • - CQĐTCA H Điện Biên;
  • - Bộ phận HSNVCAH ĐB;
  • - Sở TP Điện Biên;
  • - THA HS huyện ĐB;
  • - Nhà tạm giữ CAHĐB;
  • - Chi cục THADSHĐB;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lường Văn Lương

5

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Nông Trung Kiên

CHỦ TỌA

Lường Văn Lương

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Lò Thị Thanh Bình

6

7

8

9

10

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2024/HSST ngày 21/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B TỈNH ĐIỆN BIÊN về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 122/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồi 12 giờ ngày 19/12/2023 bị cáo đi mua ma túy về để bán kiếm lời, trên đường về thì có bán cho một người đàn ông không biết tên và địa chỉ 01 ít Heroine được 200.000 đồng. Hồi 13 giờ 15 phút cùng ngày, khi bị cáo đang ở nhà thì bị bắt quả tang 01 gói Heroine có khối lượng 20,91 gam và 200.000 đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger