Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SƠN LA

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 122/2024/HSST

Ngày 14 - 08 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:bà Cầm Thị Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tòng Văn Loan

2. Bà Lò Thị Quỳnh

Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Tía - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 131/2024/TLST - HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử vụ án số 125/2024/QĐXXST - HS ngày 02/8/2024 đối với bị cáo:

Phạm Văn T (tên gọi khác: không), sinh ngày 22 tháng 10 năm 1997 tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nơi thường trú và nơi ở: Bản Đ, xã Muổi Nọi, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Phạm Văn T, sinh năm 1976 và bà Bùi Thị H, sinh năm 1978, bị cáo có vợ là Lại Thị H, sinh năm 1997 và có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt từ ngày 13 tháng 5 năm 2024 đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 40 phút ngày 13/5/2024, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, ma túy - Công an thành phố Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 03, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La phát hiện và bắt quả tang Phạm Văn T đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy ở trong lòng bàn tay trái của T 01 gói giấy bạc bên trong có 04 viên nén đồng dạng màu hồng, do T tự giác đem ra nộp và khai nhận đó là ma túy Hồng phiến T mua để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy bạc bên trong có chứa 04 viên nén đồng dạng màu hồng nghi là Methamphetamine bị cáo tự giác lấy trong lòng bàn tay trái của mình ra giao nộp, bị cáo khai nhận đó là ma túy Methamphetamine bị cáo vừa mua và cất giấu với mục đích sử dụng cho bản thân, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.

Ngày 13/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng thu giữ của Phạm Văn T, kết quả: 04 viên nén màu hồng hình tròn đồng dạng khi bắt quả tang có khối lượng 0,41 gam, trích 0,21 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu P. Còn lại 0,20 gam lưu kho vật chứng, ký hiệu T.

Kết luận giám định số 1080/KL-KTHS ngày 15/5/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu ký hiệu P gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,21 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,41 gam; loại Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 13/5/2024, Phạm Văn T đón xe buýt đi từ nhà Bản Đông Hưng, xã Muổi Nọi, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xuống thành phố Sơn La để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân, khi đến khu vực Wincom T xuống xe đi bộ đến gần khu vực Khách sạn Hoa Ban Trắng thuộc tổ 3, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La gặp 01 người nam giới không quen biết đang đứng bên đường nhìn giống người sử dụng ma túy nên bị cáo đã đặt vấn đề mua ma túy của người nam giới, qua trao đổi bị cáo đã mua được của người thanh niên đó 04 viên ma túy Hồng phiến được cất trong 01 gói giấy bạc với giá 200.000VNĐ, mua bán xong T cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ tìm nơi sử dụng, khi đang đi ở khu vực tổ 3, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, ma túy - Công an thành phố Sơn La phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Về nguồn gốc số ma tuý trong vụ án, Phạm Văn T khai nhận mua của người nam giới không quen biết vào ngày 13/5/2024 tại khu vực tổ 3, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ nào khác để xác minh, điều tra mở rộng vụ án.

Tại bản Cáo trạng số: 324/CT-VKS ngày 24/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là đúng người, đúng tội.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1; Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Phạm Văn T từ 18 đến 22 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu huỷ: 0,20 gam Methamphetamine ký hiệu là T, 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh giấy bạc.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến gì đối đáp với đại diện Viện kiểm sát và có ý kiến xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 13/5/2024 bị cáo Phạm Văn T đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,41gam chất ma tuý là Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực tổ 03, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ:

  • - Bản tường trình, lời khai nhận tội của bị cáo.
  • - Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 17 giờ 50 phút ngày 13/5/2024 tại tổ 3, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đối với Phạm Văn T cùng vật chứng thu giữ là 01 gói giấy bạc trong có chứa 04 viên nén màu hồng hình tròn đồng dạng T khai là Methamphetamine bị cáo mua cất giữ để sử dụng.
  • - Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 1080/KL-KTHS ngày 15/5/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của ông Phan Thành L, sinh năm 2001, trú tại tổ 9, phường Quyết T, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang.

Từ các căn cứ nêu trên, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi tàng trữ trái phép 0,41gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng của bị cáo Phạm Văn T đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Xét về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Bị cáo Phạm Văn T đã phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy với tổng khối lượng là 0,41 gam, loại Methamphetamine đã vi phạm vào tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, khung hình phạt có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn và các tội phạm khác do đó cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có ông ngoại là Bùi Văn Phốt được tặng thưởng huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bản thân bị cáo là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về nguồn gốc 0,41 gam Methamphetamine bị thu giữ khi bắt quả tang, bị cáo khai nhận mua của một người nam giới không quen biết vào ngày13/5/2024 tại khu vực tổ 3, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Nên Cơ quan Cảnh Sát điều tra - Công an thành phố Sơn La không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án, do đó buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về toàn bộ số ma túy bị thu giữ.

[7] Vật chứng của vụ án: Đối với 0,20 gam Methamphetamine ký hiệu T hiện đang lưu kho vật chứng là vật cấm tàng trữ, lưu hành và 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh giấy bạc là vật chứng không có giá trị sử dụng, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015,cần tịch thu và tiêu hủy.

[8] Về án phí: Do hành vi phạm tội của bị cáo, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:

    Căn cứ vào c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo: Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13 tháng 5 năm 2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu và tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc và mẫu lưu T = 0,20 (không phẩy hai mươi) gam (được niêm phong trong 01 phong bì công văn có dán giấy niêm phong số 086231 và 01 dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La).

    (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/7/2024 giữa Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Phạm Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14/8/2024).

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND thành phố Sơn La;
  • - Công an thành phố Sơn La;
  • - Chi cục THADS thành phố Sơn La;
  • - Trại giam;
  • - THAHS;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Cầm Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2024/HSST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 122/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo: Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger