|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:122/2024/HS-PT
Ngày: 23/4/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Nguyễn.
Các Thẩm phán:
- Ông Hoàng Bích Sơn
- Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 63/2024/TLPT-HS ngày 23/02/2024 đối với bị cáo Nguyễn Hữu T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 15/01/2024 của Tòa án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hữu T; giới tính: Nam; sinh năm: 1981, tại T B; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Y, xã A, huyện T, T B; nơi cư trú: 228/38 G, khu phố 3, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: May; con ông Nguyễn Hữu X và bà Nguyễn Thị M; có vợ Hoàng Thị M1 và có 03 người con; lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/4/2022. (có mặt tại phiên toà).
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu T:
Luật sư Thái Văn Chung và Luật sư Trần Ngọc Hòa - Công ty Luật MTV hãng luật Nguyên Giáp thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ ngày 18/08/2019, Nguyễn Hữu T ngồi uống rượu bia và hát karaoke với Lang Văn Đ tại nhà của T ở số 228/38 G, khu phố 3, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thì ông Nguyễn Văn K cùng với Nguyễn Văn S (là con trai ông K) đối diện nhà T đi vào yêu cầu T không hát nữa vì gây ồn ào. Lúc này, T dẫn ông K ra phòng khách chỉ vào đồng hồ treo tường nói mới hát và chưa quá 22 giờ. Hai bên nói qua lại và T có chỉ tay vào ông K thì anh S đi tới nói T không được chỉ tay vào cha mình. Anh S cầm tay T thì T gạt tay ra. Thấy vậy, Đ chạy từ dưới bếp ra xô xát đánh nhau với S bằng tay chân ở đường hẻm trước nhà. Ông K cầm một cái ghế gỗ định đánh Đ thì có chị Lê Thị Thúy L (là vợ S), Hoàng Thị M1 (là vợ T) và Nguyễn Văn H (là hàng xóm) chạy đến can ngăn. Lúc này, T đứng ở thềm nhà lấy một cây tre dài 3.4m để trước nhà đánh một cái về hướng ông K nhưng không trúng, ông K cầm ghế xông về hướng T thì chị L thấy T cầm cây định đánh ông K nên chạy lại can ngăn nhưng không được. T dùng cây tre đánh một cái trúng vào trán bên trái ông K, trượt xuống trúng vai bên trái ông K. Lúc này, chị L dùng tay giật chiếc ghế gỗ từ tay ông K ra làm ông K mất đà té ngã xuống đất bất T. Chị L tri hô rồi cùng mọi người đưa ông K đến Bệnh viện cấp cứu. Vụ việc sau đó được trình báo đến Công an phường B lập hồ sơ ban đầu và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B thụ lý theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ, tạm giữ:
- + 01 cây tre dài 3.4m. Một đầu có đường kính 3,5cm, 01 đầu có đường kính 2,5cm.
- + 01 cái ghế gỗ, kích thước chỗ ngồi 30x33cm, cao 60cm, bị mất một thanh gỗ dựa lưng.
- + 01 USB chứa clip ghi nhận diễn biến vụ việc đánh nhau.
Ngày 19/8/2019, bị hại Nguyễn Văn K có đơn yêu cầu xử lý hình sự và đồng ý giám định tỷ lệ thương tật.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 993/TgT.19 ngày 08/11/2019 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận về thương tích của ông Nguyễn Văn K:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Chấn thương vùng trán đỉnh phải gây rách da, sưng bầm mô mềm, nứt vỡ sọ, xuất huyết dưới nhện đã được điều trị, hiện còn:
- + Một sẹo phẳng kích thước 6x0,1cm.
- + Hình ảnh trên phim chụp cắt lớp vi tính:
- Đường nứt sọ dài 11cm.
- Ổ dập não xuất huyết bán cấp kích thước 2x1,3cm.
- Chấn thương vùng trán đỉnh trái gây sưng bầm mô mềm, nứt vỡ sọ, xuất huyết dưới nhện đã được điều trị, hiện còn:
- + Nốt dưới da vùng trán.
- + Hình ảnh trên phim chụp cắt lớp vi tính:
- Nốt dưới da đầu.
- Đường nứt sọ dài 10cm.
- Chấn thương phần mềm vai trái đã được điều trị, hiện còn nốt dưới da tại mặt trên vai, tình trạng ổn định.
2. Theo thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/06/2014 của Bộ Y tế qui định tỉ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần:
- Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 63%.
3. Kết luận khác:
- Thương tích do vật tày tác động gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng đương sự”.
Tại Bản kết luận giám định bổ sung số 993.B/TgT.19-22 ngày 18/7/2022 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận về thương tích ông Nguyễn Văn K:
Theo Bản kết luận số 993/TgT.19:
- - Chấn thương vùng trán đỉnh phải có tỷ lệ 45%.
- - Chấn thương vùng trán đỉnh trái có tỷ lệ 32%.
- - Chấn thương vùng vai trái có tỷ lệ 01%.
- - Tổng các tỷ lệ trên theo quy định tại Thông tư 20/2014/TT-BYT là 63%.
- - Tổng tỷ lệ của chấn thương vùng trán đỉnh trái và vùng vai trái theo quy định tại Thông tư 20/2014/TT-BYT là 33%.
- - Cây tre như quý cơ quan cung cấp có thể gây ra được tất cả các chấn thương như đã giám định.
Tại Kết luận giám định số 4141/KL-KTHS ngày 09/8/2022 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh đối với file video có tên 2022-04-08-17-17-IMG-1843.MOV lưu trong USB hiệu Kingston, dung lượng 2GB, nắp đậy bằng kim loại, thân bằng nhựa màu xanh lá cây, thu giữ trong vụ án cố ý gây thương tích xảy ra tại khu phố 3, phường B, quận B ngày 18/9/2019, kết luận giám định như sau:
1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tập tin video cần giám định.
2. Đã trích xuất dữ liệu tập tin video cần giám định ra bản ảnh và mô tả đặc điểm các hình ảnh đã trích xuất (chi tiết dữ liệu được thể hiện trong phụ lục kèm theo, phụ lục gồm 6 trang).
Về dân sự: Bị cáo T cùng gia đình đã hỗ trợ tiền thuốc men và viện phí cho bị hại K số tiền 4.000.000 đồng và bị hại K có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T. Quá trình giải quyết vụ án, bị hại K yêu cầu bị cáo T bồi thường thiệt hại tổn thất tinh thần với số tiền 50.000.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Hữu T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 15/01/2024 của Tòa án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 08/4/2022.
Ngày 18/01/2024 bị cáo Nguyễn Hữu T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay: Bị cáo Nguyễn Hữu T đã thừa nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo thực hiện như Bản án sơ thẩm đã xác định, bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Sau khi xem xét tất cả lời khai, tình tiết trong hồ sơ vụ án, nhận thấy bản án sơ thẩm đã tuyên bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội. Xét kháng cáo của bị cáo, tại phiên tòa phúc thẩm xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được các tình tiết giảm nhẹ mới. Mức án mà cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 355, Điều 356 không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư Thái Văn C và Trần Ngọc H bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu T trình bày: Sau khi xảy ra vụ án thì bị cáo và gia đình bị cáo đã thăm nom bị hại và bồi thường 5 triệu đồng, bị cáo lần đầu phạm tội, cha bị cáo được tăng huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị hại K có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo dưới mức mà vị đại diện Viện kiểm sát quận B đề nghị tại phiên toà hình sự sơ thẩm để tạo điều kiện cho bị cáo được sớm hoà nhập cộng đồng, lao động giúp đỡ gia đình.
Bị cáo đồng ý với bài bào chữa của các Luật sư đã trình bày và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm số tiền buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại vì bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn.
Đối đáp lại lời bào chữa của Luật sư, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo để giảm hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân quận B, Thẩm phán trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 22 giờ ngày 18/08/2019 tại địa chỉ số 228/38 G, khu phố 3, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Hữu T đã có hành vi sử dụng hung khí là một cây tre dài 3.4m gây nhiều thương tích cho bị hại ông Nguyễn Văn K. Căn cứ kết luận giám định của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh thì tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích mà bị cáo gây ra cho bị hại là 33%. Do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Tòa án nhân dân quận B đã xét xử bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tự nguyện bồi thường chi phí điều trị cho bị hại là ông K số tiền 4.000.000 đồng, ông K viết đơn bãi nại đối với bị cáo T, nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cung cấp các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo được bị hại bãi nại, sau khi xảy ra vụ án thì bị cáo và gia đình bị cáo đã thăm nom bị hại và bồi thường được một phần tiền, bị cáo lần đầu phạm tội, cha bị cáo được tăng huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bị cáo là lao động chính trong gia đình và các tình tiết giảm nhẹ đã được cấp sơ thẩm xem xét áp dụng. Xét mức án mà Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp nên không có cơ sở giảm án cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Lập luận trên đây là căn cứ không chấp nhận bài bào chữa của các Luật sư đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo dưới mức đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B tại phiên toà hình sự sơ thẩm.
Do không chấp nhận kháng cáo nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các vấn đề khác không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 15/01/2024 của Tòa án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt Nguyễn Hữu T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 08/4/2022.
- Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 22, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Bị cáo Nguyễn Hữu T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Nguyễn |
Bản án số 122/2024/HS-PT ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 122/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu T Cố ý gây thương tích
