Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 122/2024/HS-ST

Ngày: 25-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Lịnh

Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Phong

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quyền

Ông Lưu Kim Oai

Ông Trần Trương Hiển.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Quý - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lý Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Trọng K, sinh ngày 22/01/1987 tại thành phố Đà Nẵng. Nơi thường trú: Số A V, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Kế toán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị Diệu N, sinh năm 1958; chưa có vợ, con; tiền án: Không, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28/8/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 8 năm 06 tháng tù về tội tham ô tài sản, đối với hành vi thực hiện vào năm 2019; không bị tạm giữ, tạm giam trong vụ án này (Bị tạm giam trong vụ án Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử ngày 28/8/2024 về tội tham ô tài sản từ ngày 24/06/2023 đến nay, được trích xuất về Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang để xét xử trong vụ án này). Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo K: Luật sư Bùi Thị T1 - Văn phòng luật sư Phạm Văn C thuộc Đoàn luật sư tỉnh K (Có mặt).

- Bị hại: Công ty TNHH B

Địa chỉ: Khu T và C1, Khu D, ấp G, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thành L - Chức vụ: Giám đốc Công ty TNHH B.

Người đại diện theo ủy quyền:

  1. Ông Phạm Hồng P, sinh năm 1990 - Kế toán trưởng (Có mặt).
  2. Đặng Thị Phương U, sinh năm 1994 - Chuyên viên pháp chế (Có mặt).

Theo các Giấy ủy quyền số: 2409A và số: 2409B ngày 24/9/2024 của người đại diện theo pháp luật (Giám đốc) công ty.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Anh D, sinh năm 1989 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.

  1. Ông Nguyễn T, sinh năm 1954 (Có mặt).

Địa chỉ: Số A V, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 05/4/2022, Công ty TNHH B (gọi tắt là Công ty B), địa chỉ trụ sở tại khu D, ấp G, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang có ký hợp đồng thử việc số 00448/HĐTV-NVS/2022 với Nguyễn Trọng K, trong thời hạn kể từ ngày 05/4/2022 đến ngày 04/6/2022. Đến ngày 04/7/2022, Công ty tiếp tục Hợp đồng lao động số 00448/HĐLĐ-NVS/2022 với Nguyễn Trọng K đều là Chuyên viên kế toán công nợ của Công ty, trong thời hạn kể từ ngày 04/7/2022 đến ngày 03/7/2024, nhiệm vụ được phân công là nhân viên doanh thu, phụ trách trực tiếp làm chi tiết các công việc kế toán liên quan đến vận hành khu Grand World. Theo nội dung công việc được phân công đối với vị trí chuyên viên kế toán công nợ, K “chịu trách nhiệm theo dõi các công việc: hạch toán doanh thu và ghi nhận công nợ khách hàng đã thanh toán; kiểm tra và lên báo cáo doanh thu, công nợ từng tháng; cuối tháng đối chiếu bảng kê VAT đầu ra với sổ kế toán; phối hợp với Ban Q (KPTM) Grand World đối chiếu, rà soát, thu hồi công nợ, hoàn trả các khoản tiền đặt cọc của khách hàng và một số các công việc khác theo yêu cầu của ban lãnh đạo”(gọi chung là kế toán Shop). Việc hạch toán thu, chi tài chính nêu trên được thực hiện trên phần mềm kế toán “SAP”, chỉ thực hiện giao dịch thu, chi bằng tài khoản Ngân hàng của Công ty, không thực hiện thu, chi trực tiếp bằng tiền mặt.

Quy trình Công ty B nhận và thanh toán hoàn cọc cho khách hàng thi công các căn Shop tại dự án Grand World P, thực hiện theo các bước sau:

Bước 1: Nhà thầu/Khách hàng thực hiện đăng ký chương trình hoàn thiện nội ngoại thất với Công ty B. Tại đây, khách hàng sẽ tiến hành mời thầu vào để thi công căn S. Theo quy định thỏa thuận thi công giữa khách hàng và Công ty B, phía nhà thầu sẽ tiến hành đặt cọc 50.000.000 đồng/căn Shop vào tài khoản của Công ty B, ngoài ra còn đặt cọc thêm số tiền thuê phát sinh khác (nếu có).

Bước 2: Chăm sóc khách hàng/Ban quản lý Grand World chấp nhận đề nghị sửa chữa/thi công từ phía khách hàng; xác nhận thông tin nhà thầu vào thi công và thông báo cho khách hàng đặt cọc số tiền trên vào tài khoản của Công ty với mục đích đảm bảo cho việc sửa chữa, cải tạo Shop tại G.

Bước 3: Kế toán căn cứ, trích xuất sao kê ngân hàng trên hệ thống Banking, sau đó kế toán S thực hiện kiểm tra nội dung thanh toán theo căn S và số tiền cọc thi công mà khách hàng/nhà thầu đã thanh toán, để kế toán Shop hạch toán treo công nợ phải trả khách hàng/nhà thầu trên phần mềm kế toán theo đúng đối tượng.

Bước 4: Sau khi khách hàng/nhà thầu thực hiện sửa chữa, cải tạo căn Shop xong, đại diện Ban quản lý và khách hàng sẽ ký biên bản nghiệm thu hoàn thành công trình tại căn Shop.

Bước 5: Căn cứ theo tiến độ nghiệm thu đã ký kết, tại đây Ban quản lý cho ký Đơn đề nghị hoàn tiền theo yêu cầu của khách hàng/nhà thầu, đồng thời yêu cầu Khách hàng cung cấp Giấy báo nợ đã thanh toán vào tài khoản của Công ty B. Ban quản lý tập hợp hồ sơ đề nghị thanh toán từ khách hàng/nhà thầu gửi kế toán kèm theo Biên bản nghiệm thu hoàn thành để tiến hành kiểm tra.

Bước 6: Nhận được đề nghị thanh toán của Ban quản lý yêu cầu hoàn tiền cho khách hàng/nhà thầu, phía kế toán sẽ kiểm tra lại các khoản cọc đã nhận, công nợ phải trả, ... đối chiếu với Đơn yêu cầu hoàn tiền và Giấy báo nợ của khách hàng khớp với Giấy báo có của Công ty B, sau đó trình ký đề nghị thanh toán.

Bước 7: Sau khi đề nghị thanh toán được duyệt, kế toán Shop phụ trách lập bảng kê hoàn lại số tiền cọc vào tài khoản khách hàng chỉ định trên đề nghị thanh toán tại B.

Bước 8: Kế toán Shop gửi hồ sơ và bảng kê đã lập để đối chiếu lần 2, sau đó tiến hành chuyển tiền trên Internet Banking. Cuối cùng là thực hiện duyệt lệnh trên hệ thống Internet Banking của Ngân hàng.

Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2022 đến tháng 6/2023, K được giao nhiệm vụ hạch toán sổ sách kế toán, hoàn trả các khoản tiền đặt cọc của khách hàng, từ đó K đã lợi dụng việc này để thực hiện các hành vi gian dối như: Chỉnh sửa, thêm dòng các giao dịch ảo trong các bảng kê thanh toán khống trên phần mềm kế toán “SAP” cho 09 khách hàng có các khoản cọc với công ty, gồm: 1. Nguyễn Anh D; 2. Triều Thị T2; 3. Trần Thị Minh H; 4. Lê Thị T3; 5. Nguyễn Ngọc Phương T4; 6. Nguyễn Thị Ngọc L1; 7. Trần Thị P1; 8. Phan Tuyết M; 9. Đào Văn T5 nhằm mục đích để Công ty chuyển hoàn trả lại các khoản cọc tại khu dự án Grand World P nhầm cho 09 khách nêu trên với tổng số tiền là 1.146.724.794₫.

Quy trình của K chỉnh sửa, thêm dòng các giao dịch ảo để hoàn trả các khoản cọc cho khách hàng tại khu dự án Grand World P, thực hiện theo các bước sau:

Bước 1: Sau khi nhận hồ sơ từ bộ phận Chăm sóc khách hàng/Ban quản lý Khu phố T, K kiểm tra và chuyển hồ sơ cho Kế toán trưởng rà soát trước khi trình Lãnh đạo Công ty phê duyệt.

Bước 2: Sau khi hồ sơ trình ký đầy đủ, K tập hợp hồ sơ và lập bảng kê. Tại đây Chuyên viên kế toán thanh toán của Công ty sẽ kiểm tra lần 2 giữa hồ sơ và bảng kê, nếu hồ sơ và bảng kê đã khớp, bảng kê sẽ được lưu trên ổ đĩa dữ liệu chung của Công ty.

Bước 3: Sau khi Chuyên viên kế toán thanh toán kiểm tra xong lần 2, K sẽ vào lại ổ đĩa chung của Công ty để thay đổi thông tin tài khoản thụ hưởng và thêm dòng giao dịch ảo vào bảng kê đã được kiểm tra.

Bước 4: Tại thời điểm tải lệnh thanh toán lên hệ thống Ngân hàng điện tử để chuyển tiền, Chuyên viên kế toán thanh toán đã tải trực tiếp bảng kê được lưu trong ổ đĩa chung mà không phát hiện ra bảng kê bị sửa và trình cấp trên để trình Lãnh đạo Công ty duyệt lệnh thanh toán.

Bước 5: Trước khi duyệt lệnh thanh toán qua tài khoản Ngân hàng, Kế toán trưởng Công ty S2 giữa bảng kê Excel được lưu trên ổ đĩa chung và lệnh chuyển tiền được lập trên hệ thống của Ngân hàng, nếu thông tin đã khớp nhau, Kế toán trưởng duyệt lệnh chuyển tiền trên hệ thống Internet Banking của Ngân hàng.

Bước 6: Để hành vi không bị phát hiện, K tiếp tục vào ổ đĩa chung của Công ty đổi lại thành bảng kê đúng tại B.

Sau khi Công ty chuyển tiền vào tài khoản của 09 khách hàng nêu trên, K sử dụng điện thoại liên hệ với 09 khách hàng thông qua tin nhắn Zalo, gọi điện thoại hoặc qua email cá nhân của K để xác nhận việc Công ty chuyển tiền vào tài khoản của 09 khách hàng là do sơ suất trong giao dịch chuyển hoàn cọc nên Công ty đã chuyển nhầm cho khách hàng. Để thanh toán tiền hoàn cọc thi công các căn Shop tại khu dự án trên, K nói dối với Nguyễn Anh D rằng “Khanh là kế toán của Công ty, không chuyển tiền vào tài khoản của K được nên nhờ tài khoản của D để chuyển tiền nhằm mục đích lách thuế” thì D đồng ý. Tiếp đó, K lần lượt nói dối với 09 khách hàng trên, do “sợ Công ty trách” nên K yêu cầu 09 khách hàng này chuyển tiền ngược lại cho Công ty qua tài khoản cá nhân của K và D để K thanh toán phí dịch vụ như: Tiền vận hành, tiền điện, tiền nước,... của căn S1 và thanh toán lại với Kế toán, Thủ quỹ của Công ty, thì 09 khách hàng đều đồng ý và thực hiện 18 lần chuyển trả lại cho Công ty qua tài khoản cá nhân của K và D do K cung cấp, với số tiền là 1.096.724.794đ.

Còn 50.000.000đ, D khai nhận sau khi hay tin K bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, tỉnh Khánh Hòa bắt tạm giam về tội “Tham ô tài sản”, D không chuyển trả lại số tiền này vào tài khoản cá nhân của K mà đến gặp Trần Đ là nhân viên chăm sóc khách hàng của Ban Q1 thuộc Công ty, đưa trực tiếp bằng tiền mặt cho Đ mà không có làm biên bản giao, nhận, để nhờ Trần Đ giao nộp lại cho Công ty, nhưng Trần Đ đã nghỉ việc từ ngày 08/11/2023 và không có mặt tại địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không tiến hành làm việc được và Công ty xác nhận Trần Đ chưa nộp lại số tiền này, nên D đến Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh K tự nguyện nộp lại số tiền 50.000.000₫ nêu trên để trả cho Công ty.

Như vậy, Công ty B đã lần lượt chuyển tiền vào tài khoản của 09 khách hàng với tổng số tiền là 1.146.724.794đ và 09 khách hàng đã lần lượt chuyển trả lại Công ty thông qua số tài khoản cá nhân của K và D do K cung cấp để K chiếm đoạt tổng cộng là 1.096.724.794đ (Một tỷ, không trăm chín mươi sáu triệu, bảy trăm hai mươi bốn nghìn, bảy trăm chín mươi bốn đồng), cụ thể như sau:

  1. Nguyễn Anh D: Nhận của Công ty H1 lần, với số tiền là 365.000.000đ, đã chuyển trả lại cho K 07 lần, với số tiền là 315.000.000₫.
  2. Triều Thị T2: Nhận của Công ty 02 lần, với số tiền là 253.059.000đ, đã chuyển trả lại cho K 02 lần, với số tiền là 253.059.000đ.
  3. Trần Thị Minh H: Nhận của Công ty 02 lần, với số tiền là 100.000.000đ, đã chuyển trả lại cho K 02 lần, trong đó: Tài khoản của Nguyễn Thị Ngọc L1 01 lần, với số tiền là 50.000.000đ và của K 01 lần, với số tiền là 50.000.000đ.
  4. Lê Thị T3: Nhận của Công ty A lần, với số tiền là 50.000.000đ, đã chuyển trả lại cho K 01 lần, với số tiền là 50.000.000đ.
  5. Nguyễn Ngọc Phương T4: Nhận của Công ty A lần, với số tiền là 50.000.000₫, đã chuyển trả lại cho K 01 lần, với số tiền là 50.000.000₫.
  6. Nguyễn Thị Ngọc L1: Nhận của Công ty A lần, với số tiền là 50.000.000đ, đã chuyển trả lại cho K 02 lần với số tiền là 100.000.000đ (trong đó có 01 lần nhận dùm của Trần Thị Minh H 50.000.000đ rồi chuyển cho K).
  7. Trần Thị P1: Nhận của Công ty 02 lần, với số tiền là 178.665.794đ, đã chuyển trả lại cho K 02 lần, với số tiền là 178.665.794đ.
  8. Phan Tuyết M: Nhận của Công ty A lần, với số tiền là 50.000.000 đồng và chuyển trả lại cho K 01 lần, với số tiền là 50.000.000 đồng.
  9. Đào Văn T5: Nhận của Công ty A lần, với số tiền là 50.000.000đ, đã chuyển trả lại cho K 01 lần, với số tiền là 50.000.000đ.

Trong quá trình điều tra, Nguyễn Anh D tự nguyện nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K 50.000.000đ để trả lại cho Công ty B; Cơ quan điều tra đã nộp vào tài khoản số 3941.0.1039586.00000 của Sở Tài chính tỉnh K mở tại Kho bạc nàh nước Kiên Giang theo Giấy nộp tiền ngày 04/3/2024.

Đối với chiếc điện thoại di động của Nguyễn Trọng K sử dụng để liên lạc trong việc thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra, K khai nhận: Trong quãng thời gian làm việc, do không có tiền tiêu xài đã bán cho người thanh niên ở thành phố N (không rõ họ tên và địa chỉ) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không tiến hành thu hồi được.

Ông Nguyễn T là cha của Nguyễn Trọng K đã nộp vào Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang 40.000.000đ theo Biên lai thu tiền số 0002239 ngày 27/3/2024, để hoàn trả cho Công ty B đối với số tiền K đã chiếm đoạt.

Tại bản Cáo trạng số: 49/CT - VKSTKG-P2 ngày 06/5/2024 của Viện kiểm sát nhân tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng K về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Trọng K. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo K từ 13 đến 14 năm tù. Về trách nhiệm dân sự, đề nghị buộc bị cáo K phải hoàn trả cho Công ty B 1.096.724.974₫ đã chiếm đoạt và tuyên trả lại cho Công ty B 50.000.000₫ Nguyễn Anh D đã giao nộp.

- Bị cáo Nguyễn Trọng K có ý kiến: Thừa nhận đã thực hiện hành vi như truy tố của Viện kiểm sát.

- Người bào chữa cho bị cáo K có ý kiến: Đồng ý theo tội danh Viện kiểm sát truy tố, luận tội đối với bị cáo. Ngoài các tình tiết giảm nhẹ đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ đó đề nghị xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất có thể.

- Đại diện hợp pháp của Công ty B có ý kiến: Về trách nhiệm hình sự, yêu cầu xử bị cáo K theo quy định pháp luật. Về trách nhiệm dân sự, yêu cầu buộc bị cáo K phải hoàn trả số tiền đã chiếm đoạt của Công ty B.

- Người có quyền lợi liên quan ông Nguyễn T có ý kiến: Số tiền 40.000.000₫ đã nộp thay cho bị cáo K vào Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang để hoàn trả cho Công ty B, nay không yêu cầu xem xét xử lý lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trọng K khai nhận đã thực hiện hành vi như truy tố của Viện kiểm sát, cụ thể bằng thủ đoạn gian dối bị cáo đã chiếm đoạt của Công ty B nhiều lần, tổng cộng 1.096.724.794đ. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, lời khai của những người liên quan, tài liệu chứng cứ do bị hại cung cấp,...Từ đó có căn cứ để kết luật hành vi bị cáo thực hiện có đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.

[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thấy rằng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác một cách trái pháp luật, gây bức xúc trong xã hội và gây mất trật tự trị an ở địa phương.

[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại 02 lần trở lên mà mỗi lần đều cấu thành tội phạm, nên có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình nộp được 40.000.000đ/1.096.724.794₫ bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại; hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là không có cơ sở, không thể chấp nhận. Bởi số tiền 40.000.000đ gia đình bị cáo giao nộp chỉ mới chiếm một phần rất nhỏ so với tổng số tiền 1.096.724.794₫ bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại, nên không thể cho là đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51, mà chỉ được xem là tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, xử phạt bị cáo một mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội, để có thời gian giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời cũng nhằm răn đe cảnh tỉnh chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự, căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, bị cáo K phải hoàn trả cho Công ty B 1.096.724.794đ mà bị cáo đã chiếm đoạt, gia đình bị cáo đã nộp vào Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang 40.000.000đ, bị cáo còn phải tiếp tục hoàn trả 1.056.724.794đ. Đồng thời Công ty B được nhận lại 50.000.000đ Nguyễn Anh D đã giao nộp.

Người có quyền lợi liên quan ông Nguyễn T không yêu cầu xử lý lại số tiền 40.000.000₫ đã nộp thay bị cáo K vào Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang để hoàn trả cho bị hại nên không xem xét.

[6] Về án phí, căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm và 43.701.743₫ (Bốn mươi ba triệu bảy trăm lẻ một nghìn bảy trăm bốn mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Án phí dân sự sơ thẩm được tính cụ thể như sau: Số tiền còn phải hoàn trả 1.056.724.794₫, án phí phải chịu là: 36.000.000đ + 3% của phần vượt 800.000.000₫ (256.724.794đ) = 43.701.743₫.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng K 13 (mười ba) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự:

- Buộc bị cáo Nguyễn Trọng K phải trả lại cho Công ty TNHH B 1.096.724.794₫ (Một tỷ không trăm chín mươi sáu triệu bảy trăm hai mươi bốn nghìn bảy trăm chín mươi bốn đồng). Gia đình bị cáo đã nộp vào Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0002239 ngày 27/3/2024, Công ty TNHH B liên hệ với Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang để nhận số tiền này; bị cáo Nguyễn Trọng K còn phải tiếp tục trả cho Công ty TNHH B 1.056.724.794đ (Một tỷ không trăm năm mươi sáu triệu bảy trăm hai mươi bốn nghìn bảy trăm chín mươi bốn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Công ty TNHH B nếu bị cáo K không trả hoặc trả không đủ số tiền nêu trên thì hàng tháng bị cáo còn phải trả tiền lãi cho Công ty TNHH B theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

- Công ty TNHH B được nhận lại 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) Nguyễn Anh D đã giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an tỉnh K (Cơ quan điều tra đã nộp vào tài khoản số 3941.0.1039586.00000 của Sở Tài chính tỉnh K mở tại Kho bạc nhà nước K1 theo giấy nộp tiền ngày 04/3/2024).

3. Về án phí, căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Trọng K phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 43.701.743đ (Bốn mươi ba triệu bảy trăm lẻ một nghìn bảy trăm bốn mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/9/2024); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp phần dân sự của bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hánh án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Vụ giám đốc kiểm tra 1 (1);
  • - VKSND Cấp cao tại tp. HCM (1);
  • - TAND Cấp cao tại tp. HCM (1);
  • - VKSND tỉnh KG (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh KG (1);
  • - THADS tỉnh KG (1)
  • - CQĐT CA tỉnh KG (1);
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh KG (1);
  • - Trại tạm giam CA tỉnh KG;
  • - Bị cáo (1);
  • - Bị hại (1);
  • - Liên quan (2); Võ Văn Lịnh
  • - Luật sư (1);
  • - Tổ hành chính tư pháp (1);
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu tòa hình sự (5).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Võ Văn Lịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 122/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trọng K dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tiền của công ty
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger