Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN M, TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2024/HS-ST

Ngày 25 - 7 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoà;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tuấn, ông Quàng Văn Mầng.

Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My, Thư ký Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Thiều, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 124/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Lù Văn B, sinh ngày 19/8/2005, tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: bản Cứp, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: lớp 10/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lù Văn D, sinh năm 1976 và con bà Lò Thị X, sinh năm 1977; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: Không; Nhân thân: chưa có án tích hoặc xử lý, xử phạt vi phạm hành chính khác; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/3/2024 đến nay; có mặt tại phiên toà.
  2. Cà Văn D1, sinh ngày 10/8/1999, tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: bản Cứp, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: lớp 11/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cà Văn L, sinh năm 1971 và bà Lò Thị L1, sinh năm 1972; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: không; tiền sự: Không; Nhân thân: chưa có án tích hoặc xử lý, xử phạt vi phạm hành chính khác; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/3/2024 đến nay; có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 9 giờ 10 phút ngày 21/3/2024, Lù Văn B1 đi bộ đến khu vực bản C, xã M, huyện M thì gặp Tổ công tác Công an tỉnh S phối hợp với Công an xã M làm nhiệm vụ kiểm tra; khi bị kiểm tra, B1 lấy từ trong túi quần đang mặc ra giao nộp 01 chiếc tất bên trong là 01 gói giấy bạc màu trắng có chứa 15 gói nilon màu xanh, bên trong chứa chất bột màu trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone gắn sim số 0378.651.xxx, B1 khai nhận đó là ma tuý do Cà Văn D1 đưa để mang đi bán. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người quả tang, thực hiện khám xét khẩn cấp nơi ở của B1 thu giữ 02 gói nilon màu xanh bên trong đều chứa chất bột màu trắng B1 khai nhận đó là ma tuý Bằng tách từ 14 gói ma tuý D1 đưa; tổ chức nhận dạng qua hình ảnh, Bằng xác định được vị trí hình ảnh Cà Văn D1.

Tổ công tác thực hiện Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Cà Văn D1, thu giữ 18 gói nilon màu xanh bên trong có chứa chất bột màu trắng, D1 khai nhận: Chiều ngày 20/3/2024 D1 đi làm thuê tại xã C, huyện M, tỉnh Sơn La thì có người đến làm quen giới thiệu tên H (không rõ họ, đệm, nơi cư trú), D1 nhờ H mua hộ ma tuý với số tiền 1.500.000VNĐ, H nhận tiền rồi đi khoảng 15- 20 phút thì quay lại đưa cho D1 01 túi nilon bên trong là ma tuý, D1 nhận gói ma tuý H đưa về chia tách thành 32 gói nhỏ đều gói bằng nilon màu xanh rồi đi bộ đến nhà B1 gọi B1 ra đường hỏi “Có biết ai cần mua ma tuý không? đang có ma tuý cần bán” Bằng nhận lời thì D1 đưa 14 gói ma tuý cho B1, số còn lại cất giữ để bán.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an tỉnh S, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Phòng K Công an tỉnh S tiến hành mở niêm phong cân tịnh tách bì, xác định khối lượng và lấy mẫu giám định tang vật thu giữ đối với Lù Văn B1 và Cà Văn D1, như sau:

  1. Thu giữ với Lù Văn B1:
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 1 có khối lượng là 0,04 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B1;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 2 có khối lượng là 0,02 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B2;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 3 có khối lượng là 0,05 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B3;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 4 có khối lượng là 0,08 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B4;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 5 có khối lượng là 0,03 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B5;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 6 có khối lượng là 0,06 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B6;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 7 có khối lượng là 0,05 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B7;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 8 có khối lượng là 0,02 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B8;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 9 có khối lượng là 0,03 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B9;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 10 có khối lượng là 0,04 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B10;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 11 có khối lượng là 0,01 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B11;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 12 có khối lượng là 0,06 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B12;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 13 có khối lượng là 0,05 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B13;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 14 có khối lượng là 0,04 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B14;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 15 có khối lượng là 0,03 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B15;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 16 có khối lượng là 0,18 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B16;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 17 có khối lượng là 0,06 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B17.
  2. Thu giữ với Cà Văn D1:
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 1 có khối lượng là 0,08 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B18;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 2 có khối lượng là 0,04 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B19;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 3 có khối lượng là 0,06 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B20;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 4 có khối lượng là 0,12 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B21;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 5 có khối lượng là 0,10 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B22;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 6 có khối lượng là 0,06 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B23;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 7 có khối lượng là 0,06 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B24;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 8 có khối lượng là 0,11 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B25;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 9 có khối lượng là 0,25 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B26;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 10 có khối lượng là 0,13 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B27;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 11 có khối lượng là 0,11 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B28;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 12 có khối lượng là 0,09 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B29;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 13 có khối lượng là 0,08 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B30;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 14 có khối lượng là 0,06 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B31;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 15 có khối lượng là 0,06 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B32;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 16 có khối lượng là 0,05 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B33;
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 17 có khối lượng là 0,06 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B34.
    • Chất bột màu trắng trong túi nilon màu xanh thứ 18 có khối lượng là 0,05 gam, lấy hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu là B35.

Ngày 27/3/2024 Phòng K Công an tỉnh S có Kết luận giám định số 778/KL-KTHS, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu từ B1 đến B35 đều là ma túy; loại Heroine; tổng khối lượng của các mẫu gửi giám định là 2,42 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 2,42 gam; loại Heroine".

Xác định vụ án thuộc thẩm quyền Cơ quan CSĐT Công an huyện M nên ngày 08/4/2024 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh S đã đề nghị chuyển vụ án hình sự cùng vật chứng kèm theo đến Cơ quan CSĐT Công an huyện M để điều tra theo thẩm quyền; ngày 10/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã ra Quyết định số 11/QĐ-VKS-P1, Quyết định chuyển vụ án hình sự để điều tra theo thẩm quyền.

Thực hiện điều tra, xác minh đối với H - người bán trái phép chất ma túy cho D1 nhưng không thu thập được tài liệu nào khác ngoài lời khai của D1.

Tại Bản cáo trạng số 88/CT-VKS-ML ngày 04/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố các bị cáo Lù Văn B1, Cà Văn D1, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Lù Văn B1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội với mục đích kiếm lời, có ma túy để sử dụng nên khi D1 nhờ bán hộ bị cáo đã đồng ý nhưng chưa kịp bán cho ai thì bị bắt như cáo trạng đã nêu; chiếc điện thoại là tài sản thuộc quyền sở hữu của B1, không sử dụng vào việc phạm tội.

Tại phiên toà bị cáo Cà văn D1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đó là do nghiện ma túy nên đã mua ma túy cất giữ, mục đích để sử dụng cho bản thân và bán cho người khác để kiếm lời.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La luận tội và tranh luận: đề nghị tuyến bố các bị cáo Lù Văn B1, Cà Văn D1 phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51, 38, 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lù Văn B1 từ 36 đến 42 tháng tù; Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, 38, 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Cà Văn D1 từ 42 đến 48 tháng tù; Không áp dụng phạt bổ sung đối với các bị cáo. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu huỷ: 01 chiếc tất, 01 mảnh giấy bạc 35 gói nilon màu xanh; Trả lại điện thoại di động cho bị cáo B1. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, buộc các bị cáo Cà Văn D1, Lù Văn B1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Cà Văn D1 tự bào chữa, tranh luận: nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân; xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Lù Văn B1 tự bào chữa, tranh luận: nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân; xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người khác không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà là thống nhất, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập và phản ánh trong hồ sơ của vụ án, được thẩm tra, xác minh tại phiên toà, xác định: Hồi 9 giờ 10 phút ngày 21/3/2024, Tổ công tác Công an tỉnh S phối hợp với Công an xã M làm nhiệm vụ tại bản Cứp, xã M, huyện M phát hiện Lù Văn B1 cất giữ 01 chiếc tất bên trong là 01 gói giấy bạc có chứa 15 gói nilon màu xanh, bên trong chứa chất bột màu trắng, B1 khai nhận đó là ma tuý do Cà Văn D1 đưa để mang đi bán; thực hiện khám xét khẩn cấp nơi ở của B1 thu giữ thêm 02 gói nilon màu xanh bên trong đều chứa chất bột màu trắng B1 khai nhận đó là ma tuý Bằng tách từ 14 gói ma tuý D1 đưa; thực hiện Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Cà Văn D1, thu giữ 18 gói nilon màu xanh bên trong có chứa chất bột màu trắng, D1 khai nhận đó là ma tuý; số ma tuý Bằng cất giữ là do D1 đưa để B1 bán. Tại kết luận giám định số 778/KL-KTHS, ngày 27/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu từ B1 đến B35 đều là ma túy; loại Heroine; tổng khối lượng của các mẫu gửi giám định là 2,42 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 2,42 gam; loại Heroine”. Như vậy, các bị cáo Lù Văn B1, Cà Văn D1 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã cố ý trực tiếp thực hiện hành vi cất giữ trái phép chất ma tuý (trong đó: Lù Văn Bằng giữ trái phép chất ma tuý có tổng khối lượng 0,85 gam và Cà Văn D1 cất giữ trái phép chất ma tuý tổng khối lượng ma tuý là 2,42 gam) nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời là xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Lù Văn B1, Cà Văn D1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; tội phạm và hình phạt được quy định như sau: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm".

[3] Về tính chất mức độ của hành vi: Các bị cáo đã được Đảng và Nhà nước tuyên truyền, vận động, cấm sản xuất, mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý nhưng ý thức coi thường kỷ cương xã hội, pháp luật của Nhà nước, vì sử dụng ma tuý và mục đích tư lợi cá nhân, kiếm lời dễ dàng các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, giữa các bị cáo không có sự phân công, không có sự cấu kết chặt chẽ nên chưa được coi là có tổ chức, theo quy định tại các Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự thì các bị cáo là đồng phạm giản đơn, có cùng mục đích bán trái phép chất ma tuý, trong đó Cà Văn D1 là người khởi xướng, trực tiếp cất giữ, giao ma tuý cho B1 để bán nên giữ vai trò chính và chịu trách nhiệm về tổng khối lượng ma tuý; còn B1 là người nhận ma tuý từ D1 đưa để bán nên phải chịu trách nhiệm với khối lượng ma tuý cất giữ. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; tội phạm các bị cáo thực hiện đã hoàn thành, hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và nghiêm trọng, không những làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, sự phát triển về thể chất của con người, suy giảm khả năng lao động do sử dụng ma túy và kinh tế của gia đình bị cáo mà còn ảnh hưởng xấu về trật tự an toàn xã hội, trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân gây ra những loại tội phạm, vi phạm pháp luật khác nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng là đúng người, đúng tội; tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội quy kết các bị cáo phạm tội và đề nghị phạt tù đối với các bị cáo là có căn cứ và phù hợp.

[4] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân: Các bị cáo thành khẩn khai báo (khai đầy đủ, đúng sự thật tất cả những gì liên quan đến hành vi phạm tội), ăn năn hối cải (luôn thể hiện sự cắn rứt, dày vò lương tâm, chấp hành tốt nội quy, quy định nhà tạm giữ, tạm giam, mong muốn sửa chữa, cải tạo mình thành người tốt); bị cáo B1 đã khai ra đồng phạm (D1) là tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án, phát hiện tội phạm. Do đó, xét cho bị cáo B1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo D1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu xa, nhận thức pháp luật hạn chế nên cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Nhân thân: Các bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy (phiếu xét nghiệm dương tính (+) với ma túy), chính quyền địa phương xác định các bị cáo không chấp hành quy định của địa phương nên cần cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để đảm bảo giáo dục, cải tạo các bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội và cũng nhằm răn đe, phòng ngừa, giáo dục cho hành vi tương tự.

[6] Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, biên bản xác minh tài sản, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa xác định: không có tài sản giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về biện pháp ngăn chặn: áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam các bị cáo để bảo đảm việc thi hành án; các bị cáo bị tạm giữ, giam được xem xét khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

[8] Đối với người tên H bán trái phép chất ma túy cho bị cáo D1; Cơ quan CSĐT đã xác minh nhưng không thu thập được tài liệu khác ngoài lời khai của bị cáo D1 nên không có cơ sở chứng minh, xử lý theo vụ án.

[9] Vật chứng của vụ án: Cơ quan chức năng đã lấy mẫu giám định 2,42 gam Heroine không hoàn lại mẫu nên không có cơ sở xử lý.

Hiện đang lưu kho vật chứng: 35 mảnh nilon, 01 chiếc tất, 01 mảnh giấy bạc các bị cáo đã sử dụng làm phương tiện cất giữ trái phép chất ma tuý là vật chứng không có giá trị nên cần tịch thu và tiêu hủy, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, số IMEL 356561100809541, gắn sim số 0378651571 là tài sản, vật dụng của B1, không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo B1.

[10] Về án phí: Tài liệu trong hồ sơ xác định các bị cáo là người dân tộc thiểu số nhưng không sống ở vùng đặc biệt khó khăn, không có căn cứ miễn, giảm nộp tiền án phí. Do đó, buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Lù Văn B1.

Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Cà Văn D1.

  1. Tuyên bố: các bị cáo Cà Văn D1Lù Văn B1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt:
    • Bị cáo Cà Văn D1 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (21/3/2024).
    • Bị cáo Lù Văn B1 33 (Ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (21/3/2024).
    • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  3. Về vật chứng: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Tịch thu và tiêu hủy: 17 mảnh nilon, 01 chiếc tất, 01 mảnh giấy bạc của Lù Văn B1; 18 mảnh nilon của Cà Văn D1.
    • Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, số IMEL 356561100809541, gắn sim số 0378651571 cho Lù V (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La).
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: buộc bị cáo Cà Văn D1Lù Văn B1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 VNĐ (Hai trăm nghìn đồng) đối với một bị cáo.
  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/7/2024).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự;Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện M;
  • - CA h.Mường La (Bộ phận Hồ sơ, CSĐT, THAHS, Nơi giam);
  • - Chi cục THADS huyện M;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú; Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hoà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 122/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lo V B và Cà Văn D, Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger