|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 122/2024/HS-ST Ngày: 24-9-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Biện Việt Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Phú Thạnh.
2. Ông Nguyễn Văn Quang.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Song Yến – Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 116/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN HIẾU T, sinh năm: 1980 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố B, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hiếu T1, sinh năm: 1941 và bà Trần Thị L, sinh năm: 1944; Vợ Huỳnh Thị Bích L1, sinh năm: 1985 và ba người con chung; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 24/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã L. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Võ Trần Nhựt Anh P, sinh năm: 1990; (Vắng mặt)
Nơi cư trú: 2941/32/52, đường P, phường G, quận H, Thành phố Hồ Chí Minh;
Nơi ở hiện tại: B, đường P, phường G, quận H, Thành phố Hồ Chí Minh;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 11/2023, Nguyễn Hiếu T, sinh năm 1980 giới thiệu xe ô tô biển số 86A – 262.30 của anh Lê Đức T2, sinh năm 1997 cho anh Võ Trần Nhựt A P, sinh năm 1990 mua. Sau khi P đồng ý mua xe ô tô biển số 86A – 262.30 với giá 450.000.000 đồng. Đến ngày 09/11/2023, Lê Đức T2 cùng với mẹ ruột là bà Trương Thị D, sinh năm 1977 điều khiển xe ô tô biển số 86A – 262.30 đến nhà Nguyễn Hiếu T ở khu phố B, phường T, thị xã L để bán xe. Do có việc nên Lê Đức T2 phải về trước, còn bà D ở lại. Khi P đến, P không gặp trực tiếp bà D mà gặp Nguyễn Hiếu T để thoả thuận mua bán xe, P thoả thuận là sẽ trả trước cho Lê Đức T2 420.000.000 đồng, số tiền còn lại khi nào làm xong giấy tờ thì P sẽ trả. Lúc này, do đang thiếu tiền nên Nguyễn Hiếu T mới nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của P để trả nợ. Thực hiện ý định này, Nguyễn Hiếu T đưa số tài khoản ngân hàng của Lê Đức T2 cho P rồi kêu P chuyển vào tài khoản của Lê Đức T2 300.000.000 đồng; đồng thời, Nguyễn Hiếu T nói dối P là chuyển vào tài khoản của Nguyễn Hiếu T số tiền 106.000.000 đồng để Nguyễn Hiếu T thay P trả cho Lê Đức T2 số tiền 120.000.000 đồng (vì trước đó, Nguyễn Hiếu T có mượn Phúc 15.000.000 đồng). Nghe vậy, P tin tưởng nên đã chuyển vào tài khoản ngân hàng của Nguyễn Hiếu T số tiền 106.000.000 đồng. Sau khi chuyển cho Lê Đức T2 300.000.000 đồng, bà D đưa giấy tờ và giao xe ô tô biển số 86A – 262.30 cho P để làm thủ tục sang tên. Sau khi được P chuyển vào tài khoản 106.000.000 đồng, Nguyễn Hiếu T đến ngân hàng rút tiền mặt để trả nợ cá nhân hết. Do lâu không thấy P trả số tiền mua xe còn lại, Lê Đức T2 tìm gặp P thì P mới biết là Nguyễn Hiếu T lừa dối, không chuyển trả 120.000.000 đồng cho Lê Đức T2; Vì vậy, P phải trả toàn bộ số tiền mua xe ô tô 86A – 262.03 còn lại cho Lê Đức T2. Đến ngày 02/01/2024, Võ Trần Nhựt Anh P đã làm đơn trình báo với chính quyền địa phương để xử lý hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của Nguyễn Hiếu T theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 119/CT-VKSLG-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân thị xã L đã truy tố bị cáo Nguyễn Hiếu T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Hiếu T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi giữ quyền công tố, tranh luận và phát biểu quan điểm xử lý vụ án như sau:
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hiếu T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 174; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hiếu T từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, Nguyễn Hiếu T và gia đình đã bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho anh Võ Trần Nhựt Anh P. Hiện anh Võ Trần Nhựt Anh P không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị không xét.
Tại phiên tòa bị cáo T xác định cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là không sai và không tranh luận gì và đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thị xã L và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, theo hồ sơ đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không thắc mắc, khiếu nại về những hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa vắng mặt bị hại. Xét thấy bị hại vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị cáo bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt cao nhất đến 07 năm tù, thuộc loại tội phạm nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự. Tội phạm được thực hiện tại địa bàn thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 268 và khoản 1 Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.
[3] Về căn cứ buộc tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và qua tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 09/11/2023, tại khu phố B, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận, thông qua việc môi giới mua bán xe ô tô, Nguyễn Hiếu T đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt số tiền 106.000.000 đồng của Võ Trần Nhựt Anh P để trả nợ cá nhân. Đến ngày 02/01/2024, Võ Trần Nhựt Anh P đã làm đơn trình báo với chính quyền địa phương để xử lý hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của Nguyễn Hiếu T theo quy định của pháp luật. Hành vi nêu trên của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của người khác, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận đã truy tố đối với bị cáo T là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người đã trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo ý thức được quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi của bất kỳ người nào xâm phạm đến đều bị pháp luật xử phạt nghiêm minh. Điều đó chứng tỏ, bị cáo xem thường pháp luật, xem thường quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác mà dẫn đến phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, Nguyễn Hiếu T và gia đình đã bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho anh Võ Trần Nhựt Anh P, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
Trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và mức hình phạt do đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần phải xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục bị cáo biết ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục những người khác biết tôn trọng pháp luật, tích cực tham gia phòng, chống tội phạm.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng cân nhắc đến việc bị cáo phạm tội lần đầu, điều này giúp xác định một mức án vừa đủ nghiêm minh nhưng cũng tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội cải tạo, sửa chữa sai lầm, và tái hòa nhập với cộng đồng.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, Nguyễn Hiếu T và gia đình đã bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho anh Võ Trần Nhựt Anh P. Hiện anh Võ Trần Nhựt Anh P không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 174; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hiếu T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hiếu T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam là ngày 24/6/2024.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Hiếu T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
Về quyền kháng cáo: Quyền kháng cáo bản án của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/9/2024); Quyền kháng cáo của bị hại vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Biện Việt Hùng |
Bản án số 122/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 122/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 09/11/2023, tại khu phố 2, phường Tân Thiện, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận, thông qua việc môi giới mua bán xe ô tô, Nguyễn Hiếu T đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt số tiền 106.000.000 đồng của Võ Trần Nhựt Anh P để trả nợ cá nhân. Đến ngày 02/01/2024, Võ Trần Nhựt Anh P đã làm đơn trình báo với chính quyền địa phương để xử lý hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của Nguyễn Hiếu T theo quy định của pháp luật Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hiếu T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam là ngày 24/6/2024.
