Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

 

Bản án số: 122/2024/HS-ST

Ngày: 03-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tô Đông Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Lê Thu
  2. Ông Khưu Hán Quang

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trúc Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 126/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2024/HSST-QĐ ngày 21 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Quách Vũ T; sinh năm: 1973; giới tính: Nam; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: A Xóm Đ, Phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa, tôn giáo: Không; nghề nghiệp: làm công; trình độ học vấn: 02/12; con ông Trần Trân T1 (chết) và bà Quách H (chết); hoàn cảnh gia đình chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 23/9/2024 (có mặt).
  2. Lâm Thái D; sinh năm: 1978; giới tính: Nam; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: F N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: 449/6/31 L, Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; nghề nghiệp: làm công; trình độ học vấn: 7/12; con ông Lâm Tư L (chết) và bà Nguyễn Thị N; hoàn cảnh gia đình: có vợ và có 02 người con lớn sinh năm 2004 ,nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 23/9/2024 (có mặt).
  3. Tô Hiệp H1; sinh năm: 1971; giới tính: Nam; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 14 đường số H T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa, tôn giáo: Không; nghề nghiệp: làm công; trình độ học vấn: 3/12; con ông Tô Ô và bà Vương Y; hoàn cảnh gia đình có vợ và có 02 người con, lớn sinh năm 1997 và nhỏ sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 20 ngày 26/5/2024, Tổ tuần tra 363 Công an thành phố H phát hiện Quách Vũ T điều khiển xe mô tô chở Huỳnh Tấn K đến trước nhà số A đường C, Phường A, Quận A có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong điện thoại di động của T có nội dung tin nhắn đánh bạc với hình thức mua bán số đề nên Tổ tuần tra 363 bàn giao T cho Công an P, Quận A.

Tại Cơ quan điều tra, Quách Vũ T thừa nhận hành vi phạm tội như sau:

T có liên lạc với Tô Hiệp H1 và Lâm Thái D qua ứng dụng Zalo để đánh bạc với hình thức mua bán số đề, cụ thể:

Ngày 27/4/2022, D nhắn tin cho T mua số đề đài Đồng Nai: “9720 4con b50n 3con b50n 2con 100n xe200n dd300n”. Có nghĩa là: 04 con số 9720, bao lô, với số tiền 50.000 đồng; 03 con số 720, bao lô, với số tiền 50.000 đồng; 02 con số 20, bao lô, với số tiền 100.000 đồng; xỉu chủ số 720, với số tiền 200.000 đồng; đầu đuôi số 20, với số tiền 300.000 đồng. Tổng số tiền D mua số đề đài Đồng Nai từ T là 4.450.000 đồng.

Khoảng 02 tiếng sau, D tiếp tục nhắn tin cho T mua số đề đài Hà Nội: “6686 4con b50n 3 con b50n 2con 100n xcdd 200n dao 4c 10n/3c 10n xc50n đài HN”. Có nghĩa là: 04 con số 6686, bao lô, với số tiền 50.000 đồng; 03 con số 686, bao lô, với số tiền 50.000 đồng; 02 con số 86, bao lô, với số tiền 100.000 đồng; xỉu chủ 686, với số tiền 200.000 đồng; đầu đuôi số 86, với số tiền 200.000 đồng; đảo 04 con số 6686, với số tiền 10.000 đồng; đảo 03 con số 686, với số tiền là 10.000 đồng; đảo xỉu chủ số 686, với số tiền 50.000 đồng. Tổng số tiền D mua số đề đài Hà Nội từ T là 8.740.000 đồng.

Tổng số tiền Tài mua bán đề với D vào ngày 27/04/2024 là: 13.190.000 đồng. Toàn bộ số đề trên đều không trúng.

Ngày 19/9/2023, Tô Hiệp H1 nhắn tin cho T mua số đề đài Bến Tre: “1972 — 100n bị, 972 — 100n bị, 72 - 300n bl, 972 — 2 triệu sỉu chủ”. Có nghĩa là số 1972, bao lô, 100.000 đồng; 972, bao lô, 100.000 đồng; 72, bao lô, 300.000 đồng; 972, sỉu chủ, 2.000.000 đồng. Tổng số tiền Tài mua bán số đề với H1 vào ngày 19/09/2023 là: 12.700.000 đồng. Toàn bộ số đề trên đều không trúng.

Tại Cơ quan điều tra, Tô Hiệp H1 và Lâm Thái D thừa nhận hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, là phương tiện bị cáo T nhắn tin mua bán số đề.
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung A8, là phương tiện bị cáo D nhắn tin mua bán số đề.
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax, là phương tiện bị cáo H1 nhắn tin mua bán số đề.

Bản cáo trạng số 133/CT-VKSQ11 ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 đã truy tố các bị cáo Quách Vũ T, Lâm Thái D, Tô Hiệp H1 về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, các bị cáo Quách Vũ T, Lâm Thái D, Tô Hiệp H1 có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhe, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Quách Vũ T mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đên 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo có ấn định thời gian thử thách; đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Lâm Thái D mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo có ấn định thời gian thử thách; đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Tô Hiệp H1 mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo có ấn định thời gian thử thách; đề nghị miễn phạt bổ sung cho các bị cáo;

Về phần xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự:

Đề nghị tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, là phương tiện bị can T nhắn tin mua bán số đề; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A8, là phương tiện bị can D nhắn tin mua bán số đề; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax, là phương tiện bị can H1 nhắn tin mua bán số đề.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tung:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về trách nhiệm hình sự của các bị cáo trong vụ án:

Tại phiên tòa hôm nay, qua phần xét hỏi và tranh tụng công khai các bị cáo Quách Vũ T, Lâm Thái D, Tô Hiệp H1 đã thừa nhận hành vi đánh bạc với nhau. Lời nhận tội của các bị cáo nêu trên phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an Q, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập tại hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Quách Vũ T, Lâm Thái D, Tô Hiệp H1 phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng, tạo ra một dư luận xấu trong nhân dân và góp phần cho các tội phạm khác phát sinh như trộm cắp, cướp giật, gây rối trật tự công cộng. Các bị cáo là những người có đầy đủ năng lực hành vi, mặc dù nhận thức được hành vi của mình bị pháp luật ngăn cấm nhưng vẫn ngang nhiên thực hiện bất chấp mọi hâu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố các bị cáo Quách Vũ T, Lâm Thái D, Tô Hiệp H1 phạm tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, cần thiết phải có mức hình phạt thật tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm tạo điều kiện cho các bị cáo phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này, biết tôn trọng pháp luật, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

Bị cáo Quách Vũ T mua bán đề 02 lần, thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, do đó cần phải có mức án thật nghiêm đối với bị cáo T.

Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ như các bị cáo Quách Vũ T, Lâm Thái D, Tô Hiệp H1 đã thành khẩn khai báo, nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, số tiền dùng để đánh bạc không lớn, các bị cáo Lâm Thái D, Tô Hiệp H1 mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo Quách Vũ T chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo có trình độ văn hóa thấp nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.

Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Quách Vũ T, Lâm Thái D, Tô Hiệp H1 có việc làm ổn định, trong thời gian tại ngoại các bị cáo đã chấp hành tốt lệnh triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội mà áp dụng “Phạt tiền” là hình phạt chính cũng đủ tác dụng giáo dục đối với các bị cáo, đồng thời cũng có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm chung và phù hợp với quy định Điều 35 Bộ luật hình sựư, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của P1 đối với người phạm tội lần đầu biết ăn năn hối cải.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, là phương tiện bị cáo T nhắn tin mua bán số đề nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung A8, là phương tiện bị cáo D nhắn tin mua bán số đề nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax, là phương tiện bị cáo H1 nhắn tin mua bán số đề nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

-Đối với số tiền 10.060.000 đồng mag bị cáo Lâm Thái D giao cho bị cáo Quách Vũ T, bị cáo T đã xài hết nên buộc bị cáo T nộp lại để sung Ngân sách Nhà nước,

-Đối với số tiền 12.700.000 đồng là số tiền đánh bạc của Tô Hiệp H1 nên cần bị cáo H1 nộp lại để sung Ngân sách nhà nước.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy hình phạt chính là hình phạt tiền nên không phạt bổ sung.

Đối với Huỳnh Tuấn K1, qua kiểm tra điện thoại có nội dung đánh bạc nhưng không liên quan đến vụ án trên, Cơ quan điều tra đã tách riêng để tiếp tục làm rõ xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Quách Vũ T, Lâm Thái D, Tô Hiệp H1 phạm tội: “Đánh bạc".

Áp dụng Điều 50; khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Quách Vũ T 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), tiền phạt được nộp ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật để nộp Ngân sách Nhà nước.

Áp dụng Điều 50; khoản 1 Điều 321, các điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lâm Thái D 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), tiền phạt được nộp ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật để nộp Ngân sách Nhà nước.

Áp dụng Điều 50; khoản 1 Điều 321, các điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Tô Hiệp H1 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), tiền phạt được nộp ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật để nộp Ngân sách Nhà nước.

Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự:

- Tịch thu sung nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A8; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax.

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1235/LNK-CQCSĐT-CSHS ngày 23/9/2024).

- Buộc bị cáo Quách Vũ T nộp lại số tiền 10.060.000 đồng (mười triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng) đẻ sung Ngân sách Nhà nước.

- Buộc bị cáo Tô Hiệp H1 nộp lại số tiền 12.700.000 đồng (mười hai triệu bảy trăm ngàn đồng) để sung Ngân sách Nhà nước.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, các bị cáo mỗi người phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2008.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND - VKSND TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - PV 06 - Công an TP.HCM
  • - VKSND Quận 11;
  • - Công an Quận 11;
  • - Chi cục THADS Quận 11;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Tô Đông Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 122/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Áp dụng Điều 50; khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Quách Vũ Tài 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), tiền phạt được nộp ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật để nộp Ngân sách Nhà nước. Áp dụng Điều 50; khoản 1 Điều 321, các điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lâm Thái Dương 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), tiền phạt được nộp ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật để nộp Ngân sách Nhà nước. Áp dụng Điều 50; khoản 1 Điều 321, các điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Tô Hiệp Hưng 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), tiền phạt được nộp ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật để nộp Ngân sách Nhà nước.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger