|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 122/2024/HS-ST Ngày 26 tháng 11 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Châu Hùng và ông Huỳnh Mộc Khải.
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lâm Hải Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 118/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Trung D, sinh ngày 12-10-1988 tại C, An Giang; nơi cư trú và chỗ ở: tổ D, khóm B, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị Bạch T; anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là người nhỏ nhất; tiền án, tiền sự: không;
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10-8-2024 đến cho đến nay, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- - Bà Nguyễn Thị Ngọc P, sinh năm 1984; nơi cư trú: tổ F, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- - Bà Nguyễn Thị Bạch T, sinh năm 1962; nơi cư trú: tổ D, khóm B, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; (có mặt).
- - Ông Phạm Vũ T1, sinh năm 1973; nơi cư trú: khóm B, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1988; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 ngày 09-8-2024, Đội Đặc nhiệm Phòng chống ma túy và tội phạm kết hợp Đồn Biên phòng V1 tuần tra kiểm soát trên khu vực địa bàn biên giới phường V, thành phố C. Khi đi đến khu vực chợ V2 thuộc khóm V, phường V, phát hiện Nguyễn Trung D đang điều khiển xe mô tô, biển số: 67B1-765.26 có biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội về ma túy nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện tại ba ga xe Dự có 01 bao giấy màu đỏ (loại bao lì xì) bên trong có 01 bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khóa viền màu đỏ, chứa tinh thể màu trắng. D thừa nhận tinh thể màu trắng là ma túy đá nên lực lượng tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang D cùng tang vật.
Tang vật thu giữ gồm có: 01 bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khóa viền màu đỏ, chứa tinh thể màu trắng (giám định là ma túy, loại Methamphetamine); 01 xe mô tô loại Wave, màu xanh, biển số 67B1-765.26; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A17K, màu xanh, có gắn sim Vinafone.
Quá trình điều tra Nguyễn Trung D khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ là ma tuý mua của Nguyễn Thị Ngọc P (tự là N) tại khu vực trên đường P thuộc 06, khóm V, phường V, thành phố C với giá 2.000.000 đồng; mục đích mua để cất giấu, sử dụng. Trước đó, vào ngày 30-7-2024 có mua ma túy của P (N) một lần.
Tại Kết luận giám định số 1124/KL-KTHS ngày 12-8-2024 của Phòng K - Công an tỉnh A, ghi nhận: Mẫu gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 4,4593gam.
Tại Cáo trạng số 112/CT-VKSCĐ-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố Nguyễn Trung D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015).
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Trung D khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Xác định xe mô tô biển số 67B1-765.26 là của mẹ ruột Nguyễn Thị Bạch T để ở nhà, bị cáo lấy xe đi mua ma túy không cho bà T biết, có yêu cầu trả lại xe cho bà T. Đối với điện thoại di động hiệu OPPO A17K là của bị cáo để liên lạc mua ma túy.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị Bạch T xác định xe mô tô biển số 67B1-765.26 là tài sản của cá nhân vợ chồng bà, chồng bà T là ông Đ (lúc còn sống) mua xe năm 2018 với giá 4.000.000 đồng của cửa hàng bán xe cũ ở C (không nhớ tên cửa hàng) để làm phương tiện chạy xe ôm. Khi mua xe không làm giấy tờ sang tên, còn giấy mua bán xe lâu quá không biết để đâu, không biết giấy tờ xe để tên gì. Khi D lấy xe bà T không biết cũng như không biết D lấy xe đi mua ma túy sử dụng, hàng ngày D cũng sử dụng xe này để đi chợ mua đồ ăn, có yêu cầu được nhận lại xe mô tô biển số 67B1-765.26 vì đây là tài sản của vợ chồng bà T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Phạm Vũ T1 và người làm chứng vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu (bút lục 93-94, 100-101).
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung D từ 03 năm đến 04 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng các Điều 46, 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý thu giữ còn lại sau giám định; tịch thu sung quỹ nhà nước điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17K có gắn sim Vinafone của bị cáo D, đây là phương tiện được bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội; giao trả xe mô tô biển số 67B1-765.26 cho bà Nguyễn Thị Bạch T do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Phạm Vũ T1, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Toà án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Trung D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 19 giờ ngày 09-8-2024, tại khu vực chợ V2 thuộc khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang, bị cáo Nguyễn Trung D đã có hành vi
cất giấu 01 bao giấy màu đỏ (loại bao lì xì) bên trong có 01 bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khóa viền màu đỏ, chứa tinh thề màu trắng được giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 4,4593 gam để tại ba ga xe mô tô biển kiểm soát 67B1-765.26 với mục đích cất giấu để sử dụng thì bị Đội Đặc nhiệm Phòng chống ma túy và tội phạm kết hợp với V1 phát hiện và bắt quả tang.
Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Nguyễn Trung D đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự tại địa phương, ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo Nguyễn Trung D là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích cất giấu để sử dụng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội; thuộc thành phần nhân dân lao động. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, tội phạm về ma tuý có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do đó, việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần thiết, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Đối với lượng ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang bị cáo và bao gói ma tuý hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu OPPO A17K có gắn sim Vinafone của bị cáo D dùng để liên lạc mua ma túy, đây là phương tiện được bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với xe mô tô loại Wave, biển số 67B1-765.26 do ông Phạm Vũ T1 đứng tên chủ sở hữu; ông T1 có lời khai xác định đã bán xe mô tô trên vào năm 2018 với giá 4.000.000 đồng, không làm thủ tục sang tên, không còn thuộc quyền sở hữu của ông T1. Bà Nguyễn Thị Bạch T có lời khai xác định mua lại xe mô tô biển số 67B1-765.26 tại một cửa hàng bán xe máy cũ ở T với giá 4.000.000 đồng vào năm 2018, không có làm thủ tục sang tên chủ sở hữu, xe mô tô được sử dụng làm phương tiện đi lại hằng ngày. Do đó, có cơ sở xác định bà Nguyễn Thị Bạch T là người quản lý hợp pháp đối với xe mo to biển số 67B1-765.26; việc bị cáo sử dụng xe mô tô đi mua ma tuý sử dụng thì bà T không biết nên có yêu cầu nhận lại xe. Xét, người quản lý hợp pháp xe mô tô biển số 67B1-765.26 không có lỗi trong việc để bị cáo D sử dụng xe mô tô mua và cất giấu trái phép chất ma tuý nên giao trả lại cho bà Nguyễn Thị Bạch T xe mo to biển số 67B1-765.26.
[6] Các vấn đề khác:
Việc D khai mua ma túy của Nguyễn Thị Ngọc P1 (tự là N) thì ngoài lời khai của D và P1 không thừa nhận thì không còn chứng cứ nào khác để chứng minh việc P1 (Nị) bán ma túy cho D nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự P1 là có căn cứ.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 ; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: xử phạt bị cáo Nguyễn Trung D 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 10-8-2024 (ngày mười, tháng tám, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46 ; điểm a, điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 ; Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, điểm b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong (Vụ số 570/KL-KTHS ngày 30 tháng 4 năm 2024) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Võ Khánh H1.
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17K, màu xanh (đã qua sử dụng) có gắn sim V.
- - Giao trả cho bà Nguyễn Thị Bạch T: 01(một) xe mô tô, loại Wave, màu xanh, biển số 67B1-765.26.
(Đặc điểm vật chứng được mô tả theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12 tháng 11 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Châu Đốc).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Trung D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Nguyễn Trung D; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bạch T có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Thời hạn kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Phạm Vũ T1 vắng mặt tại phiên toà là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Ngọc |
Bản án số 122/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 122/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HS Nguyễn Trung Dự - TTTPCMT
