|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 122/2024/HS-ST Ngày: 27-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tuyệt.
Bà Tăng Thị Nhật Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bắc - Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 107/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Đăng P, sinh năm: 1989 tại Đồng Nai; hộ khẩu thường trú và cư trú: Số B P, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đăng T, sinh năm 1966 và con bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1972, hiện đều cư trú tại phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; vợ: Hoàng Vũ H, sinh năm 1988 (đã ly hôn); con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2016, hiện đều cư trú tại phường B, thành phó B, tỉnh Lâm Đồng; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Công ty TNHH M; địa chỉ trụ sở: Số A P, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Đăng P - Chức vụ: Giám đốc. Có mặt.
-
Chi cục thuế khu vực B; địa chỉ trụ sở: Số A Hồ T, phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn H1 - Chức vụ: Chi cục trưởng.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Xuân T1 - Chức vụ: Chuyên viên đội tuyên truyền - Hỗ trợ người nộp thuế - Trước bạ & T2 khác. Có mặt.
Người làm chứng:
- Bà Trần Thị Thanh N, sinh năm: 1984; nơi cư trú: Tổ A, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm: 1973; nơi cư trú: Số B B, phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH M (Công ty) có giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mã số 5801201236 do Sở kế hoạch đầu tư tỉnh L cấp ngày 11/6/2013; địa chỉ: Số A P, phường B, thành phố B do Lê Đăng P là chủ sở hữu đồng thời là giám đốc và người đại diện theo pháp luật.
Trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến năm 2017 do nguồn hàng hóa đầu vào của Công ty được thuê sản xuất, gia công ở Nam Định hoặc mua trôi nổi ở các chợ đầu mối tại thành phố Hồ Chí Minh nên không có hóa đơn GTGT đầu vào. Để nhằm hợp thức hóa hàng hóa kê khai thuế GTGT và thuế TNDN nên Lê Đăng P đã nhờ kế toán của Công ty là Nguyễn Thị Thu H2 mua các hóa đơn GTGT khống đối với các mặt hàng này. Do lúc này H2 cũng đang làm kế toán cho bà Nguyễn Thị H3 - là chủ cửa hàng Vật liệu xây dựng A, địa chỉ: Số F đường Đ, phường A, thành phố B nên biết H3 xuất bán hóa đơn GTGT khống. Do vậy H2 đã liên hệ với H3 mua 09 hóa đơn cho Công ty TNHH M với giá khoảng 1.000.000đ. Cụ thể như sau: Vào năm 2014 mua 01 hóa đơn GTGT số 0000192 ngày 12/3/2014 do Công ty TNHH S xuất với mặt hàng là sắt, kẽm có giá trị hàng hóa trước thuế là 233.200.000đ, thuế GTGT 10% là 23.320.000đ. Đến năm 2016 mua 08 số hóa đơn GTGT (các số 0000052, 0000054, 0000058, 0000064, 0000066, 0000068, 0000071, 0000075) do Công ty TNHH V1 xuất bán với giá trị hàng hóa trước thuế là 145.200.000đ, thuế GTGT là 14.520.000đ.
Sau khi Nguyễn Thị Thu H2 nghỉ làm kế toán tại Công ty TNHH M nên Trần Thị Thanh N đến làm kế toán tại đây. P tiếp tục nhờ N tìm mua hóa đơn. Do vậy N đã lấy các cuốn hóa đơn GTGT của Công ty TNHH T5 ghi nội dung vào tờ hóa đơn GTGT số 000001 ngày 19/09/2016 với giá trị hàng hóa trước thuế là 1.661.440.000đ, thuế GTGT 10% là 166.144.000đ. Hàng hóa ghi trên hóa đơn là mũ, dây lưng, Công ty TNHH P1 ghi nội dung vào 02 tờ hóa đơn GTGT số 0000034 ngày 28/08/2016 và số 0000066 ngày 10/09/2016, và với giá trị hàng hóa trước thuế là 2.813.877.000đ, thuế GTGT 10% là 281.387.700đ, hàng hóa thể hiện trên hóa đơn GTGT là giày, quần áo, Công ty TNHH C ghi nội dung vào tờ hóa đơn GTGT số 000403 ngày 02/01/2017 với giá trị hàng hóa trước thuế là 3.993.000đ, thuế GTGT là 10% là 399.300đ. (Tổng giá trị hàng hóa trước thuế đối với 04 tờ hóa là 4.479.310.000đ, thuế GTGT là 447.931.000đ). Tất cả các công ty này đều do N thành lập. N bán cho P 04 tờ hóa đơn GTGT này với giá khoảng 3,5% giá trị hàng hóa trước thuế, tương ứng với số tiền 156.775.850đ. Để hợp thức hóa chứng từ đối với các hóa đơn trên, N đã soạn sẵn các hợp đồng mua bán hàng hóa khống rồi đưa cho P ký, đồng thời P cũng ký sẵn các ủy nhiệm chi để N thực hiện việc đảo tiền qua ngân hàng. Sau đó N nhờ Bùi Thị H4 và Nông Thị T3 thực hiện việc chuyển tiền mặt vào tài khoản của Công ty M, rồi sử dụng ủy nhiệm chi mà P đã ký sẵn để chuyển tiền qua tài khoản các công ty xuất bán hóa đơn do N thành lập. Sau khi xuất hóa đơn thì N mang đến giao cho P, nếu P không có ở nhà thì P nhờ mẹ ruột là Nguyễn Thị Y hoặc em dâu là chị Trần Nguyệt Hạ U nhận hóa đơn và thanh toán tiền cho N giúp P.
* Tại Kết luận giám định ngày 24/12/2021, Thông báo Kết luận một số nội dung giám định bổ sung ngày 20/3/2023 của Giám định viên tư pháp Hoàng Văn Thắng, Ngô Bá L (thực hiện giám định theo Quyết định về việc cử giám định viên tư pháp số 1547/QĐ-BTC ngày 13/8/2021 của Bộ T6) kết luận số tiền thuế trốn của Công ty TNHH M:
- Năm 2014: Số tiền trốn thuế GTGT: 233.200.000đ x 10% = 23.320.000 đồng; số tiền trốn thuế TNDN: 233.200.000 x 20% = 46.640.000đ.
- Năm 2016: Số tiền trốn thuế GTGT: 4.620.517.000đ x 10% = 462.051.700 đồng; số tiền trốn thuế TNDN: 4.620.517.000đ x 20% = 924.103.400đ, tổng số tiền trốn thuế năm 2016: 1.386.155.100đ".
* Tại Bản kết luận giám định bổ sung ngày 15/4/2024 của Tổ giám định viên tư pháp Hoàng Văn T4 và Ngô Bá L là giám định viên của Bộ T6 kết luận tiền thuế trốn của Công ty TNHH M:
- Năm 2016: Số tiền trốn thuế GTGT: 4.620.517.000đ x 10% = 462.051.700 đồng; số tiền trốn thuế TNDN: 4.620.517.000đ x 20% = 924.103.400đ, tổng số tiền trốn thuế năm 2016: 1.386.155.100đ".
- Năm 2017: Số tiền trốn thuế GTGT: 3.993.000đ x 10% = 399.300đ; số tiền trốn thuế TNDN: 3.993.000đ x 20% = 798.600đ, tổng số tiền trốn thuế năm 2017: 1.197.900đ".
Tổng số tiền thuế GTGT, TNDN năm 2016, 2017 của 12 hóa đơn là 1.387.353.000đ.
Chi cục Thuế khu vực B thực hiện nhiệm vụ kiểm tra quyết toán thuế tại trụ sở người nộp thuế theo đề nghị của Cơ quan CSĐT Công an T7 và ban hành công văn số 5543/CCTKV-KT1 ngày 10/10/2023 xác định Công ty M được hưởng chính sách ưu đãi miễn thuế TNDN năm 2017 là đúng quy định của Luật Quản lý thuế.
* Tại Công văn số 5543/CCTKV-KH1 ngày 10/10/2023 của Chi cục thuế khu vực B - Bảo Lâm trả lời về việc kiểm tra thuế tại công ty TNHH M xác định: Công ty M là doanh nghiệp thành lập mới và hoạt động tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, đáp ứng các điều kiện về ưu đãi thuế TNDN, thời gian áp dụng thuế ưu đãi được tính liên tục từ năm 2013 (năm đầu tiên có doanh thu), thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính liên tục từ năm 2016 (do doanh nghiệp không có thu nhập chịu thuế trong ba năm đầu kể từ năm đầu tiên có doanh thu nên thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính từ năm thứ 4. Do đó năm 2016, là năm thứ nhất doanh nghiệp được hưởng ưu đãi về miễn thuế nên không làm phát sinh thuế TNDN còn phải nộp qua kê khai cũng như qua kiểm tra, năm 2017 là năm thứ 2 đơn vị được hưởng ưu đãi miễn thuế, tuy nhiên qua kiểm tra đơn vị không phát sinh thu nhập chịu thuế (lỗ) nên không phát sinh số thuế TNDN phải nộp.
Sau khi mua 13 hóa đơn trên thì Công ty TNHH M đã sử dụng để hợp thức hóa đầu vào và để kê khai thuế GTGT đầu vào trong các năm 2014, 2016, 2017 với tổng số tiền là 485.771.000đ và kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp với giá trị hàng hóa trước thuế là 4.857.710.000đ. Tuy nhiên đối với hành vi mua và kê khai thuế 01 hóa đơn GTGT số 0000192 ngày 12/3/2014 do Công ty TNHH S xuất với giá trị hàng hóa trước thuế là 233.200.000đ, thuế GTGT 10% là 23.320.000đ của Lê Đăng P vào năm 2014 là hành vi này độc lập trong 01 kỳ kê khai thuế và chưa đủ yếu tố cấu thành tội trốn thuế và tội mua bán trái phép hóa đơn. Do vậy, chỉ xác định Công ty TNHH M đã sử dụng 12 hóa đơn bất hợp pháp trên để kê khai, quyết toán thuế năm 2016, 2017 gây thiệt hại ngân sách nhà nước số tiền 462.451.000đ (Bốn trăm sáu mươi hai triệu, bốn trăm năm mươi mốt nghìn đồng).
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 bản gốc hóa đơn GTGT số 000040 năm 2017 và Bản sao y của 12 tờ hóa đơn GTGT (liên 2) mà Lê Đăng P đã mua vào năm 2014, 2016.
Quá trình điều tra Lê Đăng P yêu cầu Chi cục thuế khu vực B - Bảo Lâm hoàn trả lại cho Công ty TNHH M 3 số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp mà Công ty đã nộp vào ngân sách Nhà nước để khắc phục hậu quả đối với 13 số hóa đơn nêu trên. Đối với Chi cục thuế khu vực B - B đề nghị giải quyết phần dân sự theo quy định của pháp luật.
Cáo trạng số: 106/CT-VKSBL ngày 09/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố Lê Đăng P về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
- Đại diện hợp pháp của Công ty M không yêu cầu Tòa án buộc Chi cục thuế khu vực B phải hoàn trả lại số tiền thuế nộp thừa tính đến hết năm 2022 mà để sau khi có bản án thì giữa Công ty V2 sẽ làm thủ tục hoàn thuế theo quy định của pháp luật.
- Đại diện hợp pháp của Chi cục thuế khu vực B - Bảo Lâm cũng thống nhất không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết số tiền thuế chậm nộp cũng như số tiền thuế nộp thừa tính đến hết năm 2022 của Công ty M mà để sau khi có bản án xét xử vụ án này thì giữa hai bên sẽ tính toán, cấn trừ, hoàn thuế theo quy định của pháp luật.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Đăng P phạm tội và tội “Mua bán trái phép hóa đơn”. Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 203, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 250.000.000đ đến 300.000.000đ.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty M và Chi cục thuế khu vực B - B đều không yêu cầu giải quyết số tiền chậm nộp thuế cũng như số tiền thuế nộp thừa của Công ty đến hết năm 2022 mà để hai bên tự tiến hành thủ tục hoàn thuế theo quy định của pháp luật. Vì vậy, không xem xét đến.
Về vật chứng: Tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án 01 bản gốc hóa đơn GTGT số 000040 năm 2017 và Bản sao y của 12 tờ hóa đơn GTGT (liên 2) mà Lê Đăng P đã mua vào năm 2014, 2016.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T7, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận:
Lê Đăng P là chủ sở hữu và đồng thời giám đốc Công ty TNHH M (trước đây là Công ty TNHH M); địa chỉ trụ sở: Số A P, phường B, thành phố B. Trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến năm 2017 do nguồn hàng hóa đầu vào của Công ty được thuê sản xuất, gia công ở Nam Định hoặc mua trôi nổi ở các chợ đầu mối tại thành phố Hồ Chí Minh nên không có hóa đơn GTGT đầu vào. Để nhằm hợp thức hóa hàng hóa kê khai thuế GTGT và thuế TNDN nên Lê Đăng P đã thực hiện hành vi nhờ Nguyễn Thị Thu H2, Trần Thị Thanh N là kế toán của công ty mua trái phép 12 hóa đơn GTGT đã ghi nội dung bất hợp pháp với giá trị hàng hóa trước thuế là 4.624.510.000đ. Sau đó Công ty TNHH M đã sử dụng 12 hóa đơn bất hợp pháp này để kê khai, quyết toán thuế năm 2016, 2017 gây thiệt hại ngân sách nhà nước số tiền thuế GTGT là 462.451.000đ (Bốn trăm sáu mươi hai triệu, bốn trăm năm mươi mốt nghìn đồng).
Trong khi, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện.
Vì vậy, hành vi của bị cáo Lê Đăng P đã phạm vào tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, đã khắc phục toàn bộ hậu quả, có ông ngoại (ông Nguyễn Văn V) được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất. Vì vậy, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[4] Về hình phạt chính: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là trật tự quản lý kinh tế, chế độ quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước; quy định của nhà nước về quản lý tài chính tiền tệ, đồng thời xâm phạm đến hoạt động quản lý thu, chi ngân sách nhà nước được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội nhưng với động cơ, mục đích vụ lợi (chiếm đoạt tiền thuế) nên vẫn thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt tiền là hình phạt chính mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Xét thấy, tại phiên tòa đại diện hợp pháp của Công ty M 3 và Chi cục thuế khu vực B - B đều không yêu cầu giải quyết số tiền chậm nộp thuế, tiền phạt chậm nộp thuế cũng như số tiền thuế nộp thừa của Công ty đến hết năm 2022 mà để sau khi xét xử vụ án này xong thì giữa hai bên sẽ tự tiến hành thủ tục quyết toán thuế, hoàn thuế theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét đến.
[7] Về các vấn đề khác:
- Đối với hành vi sử dụng 12 hóa đơn bất hợp pháp của Lê Đăng P nhằm mục đích trốn thuế thu nhập doanh nghiệp với số tiền là 924.902.000đ. Quá trình điều tra xác định vào năm 2016, 2017 thì Công ty TNHH M 3 được hưởng chính sách miễn thuế TNDN. Do vậy cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với P về hành vi trốn thuế đối với số tiền này là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với hành vi sử dụng 12 hóa đơn bất hợp pháp của Lê Đăng P nhằm mục đích trốn thuế GTGT với số tiền là 462.451.000đ. Hiện nay đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cơ quan điều tra Công an thành phố T7 không xem xét trách nhiệm hình sự đối với P về hành vi trốn thuế là đúng theo quy định của pháp luật.
- Đối với bà Nguyễn Thị Thu H2, bà Trần Thị Thanh N và Nguyễn Thị H3 đã có hành vi bán hóa đơn cho P thì đã bị truy tố, xét xử về tội mua bán trái phép hóa đơn theo bản án số 15/2021/HS-ST ngày 19/01/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng. Do vậy, không xem xét trách nhiệm hình sự đối với hành vi trên của H2, Nga, H3, trong vụ án này.
- Đối với Nguyễn Thị Y và Trần Nguyệt Hạ U đã có hành vi nhận hóa đơn và thanh toán tiền cho Trần Thị Thanh N giúp Lê Đăng P. Quá trình điều tra xác định, khi nhận hóa đơn và thanh toán tiền thì những người này không biết việc P mua hóa đơn trái phép. Do vậy, Cơ quan điều tra Công an thành phố T7 không xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà Y và chị U là đúng quy định của pháp luật.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Ý kiến, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Đăng P phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn”.
Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 203; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Đăng P 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
2. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Lê Đăng P phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ninh Khắc Phong |
Bản án số 122/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG về mua bán trái phép hóa đơn
- Số bản án: 122/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép hóa đơn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Đăng P phạm tội mua bán hóa đơn
