Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12-9-2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng, ông Nguyễn Tất Thể

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Hoàng Đức – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Văn Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 79/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị L, sinh năm: 1987; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn T, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; (Có ý kiến xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Lê Duy K, sinh năm: 1983; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: thôn T, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Hiện đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc. (Có ý kiến xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Phan Thị L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị L và anh Lê Duy K kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn vào ngày 03/12/2010 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh K không tu chí làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình nên thường xuyên xảy ra cãi vã, vợ chồng đã không còn liên lạc từ cuối năm 2021 tới nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình trạng hôn nhân không thể dung hòa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Phan Thị L làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Lê Duy K.

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Vũ A, sinh ngày 13/11/2011 và cháu Lê Đăng K1, sinh ngày 01/12/2021. Khi ly hôn, chị L có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Phan Thị L đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án vì lý do bận công việc.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành làm việc với anh Lê Duy K thông qua cuộc gọi video có hình ảnh với tài khoản Facebook của anh K là “A” (do anh Lê Hồng P là anh trai của anh K cung cấp thông tin) tại nhà của anh Lê Duy K với sự chứng kiến của đại diện Chính quyền địa phương. Bị đơn anh Lê Duy K trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Duy K thống nhất về nội dung trình bày của chị Phan Thị L về việc kết hôn, quá trình chung sống. Thời điểm năm 2021, khi vợ chồng ở Hàn Quốc thì chị L có bầu nên chị L về Việt Nam để sinh đẻ. Quá trình anh K đi xuất khẩu lao động thì vợ chồng sống xa cách nhau, không có thời gian, điều kiện để chăm sóc lẫn nhau. Ngoài ra theo anh K, vợ chồng không có thêm mâu thuẫn gì trầm trọng. Nay chị L có yêu cầu được ly hôn thì anh K có nguyện vọng muốn được đoàn tụ và không đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Vũ A, sinh ngày 13/11/2011 và cháu Lê Đăng K1, sinh ngày 01/12/2021. Trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn thì anh K đồng ý việc Tòa án sẽ giao cả 02 con chung cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng sẽ do vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hiện nay anh K không thể về Việt Nam giải quyết ly hôn, không cung cấp được địa chỉ tại Hàn Quốc nên anh K xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án và ủy quyền cho anh trai là anh Lê Hồng P thay anh thực hiện việc giao nhận các tài liệu, văn bản tố tụng với Tòa án. Quá trình làm việc, anh Lê Hồng P có đơn trình bày đồng ý chấp nhận việc ủy quyền giao nhận tại liệu, văn bản của anh Lê Duy K, cam kết sẽ thông báo lại kịp thời nội dung các tài liệu, văn bản tố tụng của Tòa án để anh K được biết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau và đề nghị Tòa án áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm b khoản 1 Điều 37; Điều 39; Điều 143, Điều 147, Điều 464, Điều 469 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Tuyên xử: Chị Phan Thị L được ly hôn với anh Lê Duy K.

Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Lê Vũ A, sinh ngày 13/11/2011 và cháu Lê Đăng K1, sinh ngày 01/12/2021 cho chị Phan Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên. Anh Lê Duy K không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về nợ chung, tài sản chung: Không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Buộc chị Phan Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày của đương sự và đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Phan Thị L và anh Lê Duy K đăng ký kết hôn ngày 03/10/2012 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Nay chị Phan Thị L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Lê Duy K. Tại công văn cung cấp thông tin xuất nhập cảnh số 497/PA08-Đ1 ngày 03/6/2024 của Phòng PA08 – Công an tỉnh H, xác nhận: Anh Lê Duy K, sinh ngày 08/01/1983, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất cảnh lần gần đây nhất vào ngày 25/6/2018, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Căn cứ các Điều 28, 37, 39 nội dung khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

[1.2]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Phan Thị L có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Lê Duy K hiện đang sinh sống, lao động tự do tại Hàn Quốc, không cung cấp được địa chỉ và thuộc trường hợp bị đơn cố tình dấu địa chỉ. Do điều kiện công việc nên anh K xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt chị L, anh K theo thủ tục chung.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị L và anh Lê Duy K tự do tìm hiểu, kết hôn trên tinh thần tự nguyện vào năm 2010, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Căn cứ quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân của chị L và anh K là hợp pháp. Theo chị L, sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh K không tu chí làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không có khả năng khắc phục, tình trạng hôn nhân không thể dung hòa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Phan Thị L làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Lê Duy K. Bản thân anh K mặc dù cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn gì trầm trọng nhưng cũng thừa nhận quá trình anh K đi xuất khẩu lao động thì vợ chồng sống xa cách nhau, không có thời gian, điều kiện để chăm sóc lẫn nhau. Anh K có nguyện vọng muốn đoàn tụ và không đồng ý ly hôn với chị L.

Xét thấy mâu thuẫn giữa chị L và anh K là có xảy ra trên thực tế và đã trầm trọng, kéo dài; vợ chồng đã sống ly thân 03 năm nay, không có điều kiện để quan tâm chăm sóc lẫn nhau cũng như khắc phục mâu thuẫn. Do đó, căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Phan Thị L và anh Lê Duy K ly hôn.

[2.2] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Vũ A, sinh ngày 13/11/2011 và cháu Lê Đăng K1, sinh ngày 01/12/2021. Cả chị L và anh K đều thống nhất nội dung nếu Tòa án xử cho vợ chồng ly hôn thì sẽ giao 02 con chung cho chị Phan Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ tuổi thành niên. Bản thân cháu Lê Vũ A cũng có đơn trình bày nguyện vọng với nội dung: nếu bố mẹ ly hôn thì cháu muốn được ở với mẹ. Xét thấy việc thỏa thuận của hai vợ chồng và ý kiến của cháu A là tự nguyện nên Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận này cũng như ý kiến của cháu A. Căn cứ quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình, giao 02 con chung là cháu Lê Vũ A, sinh ngày 13/11/2011 và cháu Lê Đăng K1, sinh ngày 01/12/2021 cho chị Phan Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên là phù hợp với quy định của pháp luật và sự thỏa thuận, ý kiến của các bên.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị L, anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị L, anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[3]. Về án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm; nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, 39, 147, 227, 228, 266, 271, 273, 464, 469, 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 8, 9, 51, 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Phan Thị L được ly hôn anh Lê Duy K.

2. Về con chung:

Giao 02 con chung là cháu Lê Vũ A, sinh ngày 13/11/2011 và cháu Lê Đăng K1, sinh ngày 01/12/2021 cho chị Phan Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Anh Lê Duy K có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí:

Chị Phan Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000862 ngày 03/5/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh.

4. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND xã Xuân Thành, H. Nghi Xuân, T. Hà Tĩnh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, TDS.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Ngọc Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 122/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger