|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 122/2024/DS-PT
Ngày 21/5/2024
V/v tranh chấp chia thừa kế tài sản
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Lâm;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vĩnh Khương;
Ông Nguyễn Hoàng Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nghi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Sơn Cươl - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 15 và 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 338/2023/TLPT-DS ngày 20 tháng 12 năm 2023, về tranh chấp chia thừa kế tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 112/2023/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 51/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lưu Nguyệt N;
Địa chỉ: Số A, đường V, khóm E, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Mai Hồng L; địa chỉ: L, đường C, Khu dân cư M, Quốc lộ A, khóm A, Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (văn bản ủy quyền ngày 03/4/2024). (có mặt)
- Bị đơn:
1. Bà Nguyễn Thị Bảo K;
2. Ông Đặng Văn Q;
Cùng địa chỉ: Số A, đường V, khóm I, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (đều vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của các bị đơn: Bà Huỳnh Ánh T; địa chỉ: Số G, đường N, khóm A, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; là người đại diện theo ủy quyền của các bị đơn (văn bản ủy quyền ngày 03/4/2024). (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Thành P;
Địa chỉ: Khu C, số H, đường T, phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
2. Bà Nguyễn Thị Bảo T1;
Địa chỉ: Số H, đường M, khóm F, Phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
3. Cháu Đặng Văn Q1, sinh ngày 12/11/2005;
4. Cháu Đặng Nguyễn Tiểu Q2, sinh ngày 26/9/2009;
Cùng địa chỉ: Số A, đường V, khóm I, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (đều vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của cháu Đặng Văn Q1 và Đặng Nguyễn Tiểu Q2: Ông Đặng Văn Q và bà Nguyễn Thị Bảo K; cùng địa chỉ: Số A, đường V, khóm I, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; là cha, mẹ ruột của cháu Đặng Văn Q1 và Đặng Nguyễn Tiểu Q2. (đều vắng mặt)
- Người kháng cáo: Bà Lưu Nguyệt N - Nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06 tháng 5 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lưu Nguyệt N trình bày:
Ông Nguyễn Thành T2 và bà là vợ chồng. Trong quá trình chung sống, vợ chồng bà có 03 người con chung là Nguyễn Thành P, Nguyễn Thị Bảo T1 và Nguyễn Thị Bảo K. Năm 2010, ông T2 chết, không để lại di chúc.
Trong quá trình chung sống, bà và ông T2 có tạo lập được khối tài sản chung gồm: Thửa đất số 172, tờ bản đồ số 40, diện tích 257,8m², tọa lạc khóm I, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 202395, do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) S, tỉnh Sóc Trăng cấp cho ông T2 và bà vào ngày 03/02/2005. Thửa đất số 104, tờ bản đồ số 31, diện tích 36,2m², tọa lạc khóm E, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 825594, do Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cấp cho ông T2 và bà vào ngày 20/5/2008.
Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết:
Phân chia di sản thừa kế của ông T2 đối với ½ giá trị quyền sử dụng đất tại các thửa đất số 172, tờ bản đồ số 40, tọa lạc khóm I, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng và thửa đất số 104, tờ bản đồ số 31, tọa lạc khóm E, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, chia theo pháp luật cho bà, ông P, bà T1 và bà K, mỗi người một phần bằng nhau. Bà yêu cầu được nhận toàn bộ 02 phần đất cùng căn nhà gắn liền trên đất và đồng ý hoàn lại giá trị bằng tiền tương ứng với mỗi phần mà ông P, bà T1 và bà K được nhận.
Buộc vợ chồng bà K và ông Đặng Văn Q di dời khỏi phần đất khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Đối với yêu cầu phản tố của bà K và ông Q thì bà không đồng ý.
Theo đơn phản tố ngày 28 tháng 7 năm 2022, đơn sửa đổi, bổ sung đơn phản tố ngày 16 tháng 8 năm 2022 của các bị đơn bà Nguyễn Thị Bảo K, ông Đặng Văn Q và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của các bị đơn là bà Huỳnh Ánh T trình bày:
Vào năm 2004, ông Q kết hôn với bà K và sinh sống tại căn nhà số A, đường V, thuộc thửa đất số 104, khóm E, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Đến năm 2009, ông T2 và bà N kêu ông Q, bà K về sinh sống tại căn nhà địa chỉ số A, đường V, thuộc thửa số 172, khóm I, Phường C, thành phố S để xây dựng mới và ở đó cho đến nay. Căn nhà này, ông Q - bà K bỏ tiền ra xây dựng mới hết 319.857.000 đồng; đến năm 2020, ông Q bỏ chi phí ra tu sửa hết 50.000.000 đồng. Hai lần xây dựng, sửa chữa hết 369.857.000 đồng.
Năm 2010, ông T2 chết. Căn nhà số A, đường V được cho thuê vài tháng thì Nhà nước mở lộ, căn nhà xuống cấp, ông Q bàn bạc với bà N (ở chung) xây dựng mới lại căn nhà. Đến năm 2011, ông Q đã thuê nhà thầu xây dựng cũng như vật tư hoàn thiện căn nhà này với số tiền 288.764.000 đồng, đến năm 2020 ông Q lại sửa chữa nhà với số tiền 2.000.000 đồng. Hai lần xây dựng, tu sửa hết 290.764.000 đồng.
Tổng số tiền ông Q đã bỏ ra xây dựng, sửa chữa 02 căn nhà trên hết 660.621.000 đồng.
Nay ông Q, bà K yêu cầu Toà án giải quyết:
Buộc bà N trả lại cho ông, bà giá trị 02 căn nhà số tiền tổng cộng 645.977.000 đồng, cụ thể căn nhà số A, đường V có giá 356.337.000 đồng (đã làm tròn) và phần hàng rào có giá 20.000.000 đồng; căn nhà số A, đường V có giá 259.640.000 đồng (đã làm tròn) và phần hàng rào có giá 10.000.000 đồng.
Bà K đồng ý chia thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản của ông T2 để lại, yêu cầu được nhận căn nhà gắn liền với đất tọa lạc khóm I, phường C, thành phố S và đồng ý trả giá trị cho các đồng thừa kế.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của ông Q xin rút một phần yêu cầu phản tố của ông trong đơn phản tố đề ngày 11/7/2022 và đơn phản tố đề ngày 10/6/2022, về việc yêu cầu bà N trả cho ông giá trị xây dựng theo giá thị trường của căn nhà tọa lạc số A, đường V và căn nhà tọa lạc số A, đường V.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thành P trình bày:
Đối với căn nhà số A, đường V, khóm I, phường C, thành phố S và số A, đường V, khóm E, phường C, thành phố S đều do mẹ ông (bà N) là người bỏ tiền ra xây dựng, ông là người trực tiếp thuê thợ xây dựng. Ông yêu cầu được nhận phần di sản thừa kế theo pháp luật, nhận hiện vật là 02 căn nhà số A, số 14 nêu trên và hoàn lại giá trị cho các đồng thừa kế.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bảo T1 trình bày:
Căn nhà số A, đường V, khóm I, phường C, thành phố S và nhà số A, đường V, khóm E, phường C, thành phố S, bà không biết ai là người đứng ra xây dựng do khi đó bà đã có gia đình sống riêng. Bà yêu cầu được nhận phần di sản thừa kế theo pháp luật của ông T2 và nhận giá trị bằng tiền.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan quan cháu Đặng Văn Q1 và cháu Đặng Nguyễn Tiểu Q2 trình bày:
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà N thì các cháu không có ý kiến gì. Các cháu có nguyện vọng được tiếp tục sinh sống trên căn nhà số A, đường V, khóm I, phường C, thành phố S, vì gia đình đã ở ổn định từ năm 2009 cho đến nay, ngoài ra thì gia đình cũng không còn chỗ ở nào khác.
Tại Bản án số 112/2023/DS-ST ngày 15/9/2023, Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:
Căn cứ khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, 2, 3, 4 Điều 68, khoản 2 Điều 92, Điều 93, khoản 2 Điều 157, khoản 2 Điều 165, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 634, điểm a khoản 1 Điều 676, khoản 2 Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 5 Điều 26, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Đặng Văn Q, về việc yêu cầu bà Lưu Nguyệt N trả lại cho ông giá trị xây dựng theo giá thị trường căn nhà tọa lạc số 14, đường V, khóm E, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng và căn nhà tọa lạc số A, đường V, khóm I, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lưu Nguyệt N, về việc phân chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Thành T2. Cụ thể như sau:
2.1. Chia bà Nguyễn Thị Bảo T1: Một phần di sản thừa kế tương ứng với số tiền 235.125.000 đồng.
2.2. Chia ông Nguyễn Thành P: Một phần di sản thừa kế tương ứng với số tiền 235.125.000 đồng.
2.3. Chia bà Lưu Nguyệt N: Được toàn quyền sử dụng phần đất tại thửa đất số 104, tờ bản đồ số 31, tọa lạc khóm E, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 825594, do Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cấp cho ông Nguyễn Thành T2 và bà Lưu Nguyệt N vào ngày 20/5/2008. Phần đất có vị trí tứ cận, diện tích như sau:
- - Phía Đông giáp đường V có số đo 5,92m;
- - Phía Tây giáp Huỳnh Đình K1 có số đo 4,39m;
- - Phía Nam giáp Tè Thị Cẩm N1 có số đo 2,23m + 2,56m;
- - Phía Bắc giáp Huỳnh Đình K1 có số đo 5,07m;
- Diện tích 51,9m² (loại đất ODT).
Bà Lưu Nguyệt N được quyền sở hữu các tài sản trên thửa đất bà N được phân chia thừa kế gồm: 01 căn nhà 02 tầng, gắn liền trên phần đất có diện tích tầng trệt là 26,67m², tổng diện tích sàn 60,0m². Kết cấu: Nền lát gạch men, vách tường gạch, khung sàn bê tông cốt thép, trần thạch cao, mái lợp tôn; Mái che trước có diện tích 12,0m², kết cấu khung sắt hộp, lợp tôn; Hàng rào phía trước dài 6,0m, cao 2,9m, kết cấu cột bê tông cốt thép, khung sắt hộp, cửa sắt hộp; Hàng rào bên hông dài 8,0m, cao 1,8m, kết cấu cột bê tông cốt thép, vách tường gạch.
Bà Lưu Nguyệt N được nhận số tiền 400.879.000 đồng do bà Nguyễn Thị Bảo K thanh toán.
Buộc bà Lưu Nguyệt N thanh toán giá trị tài sản trên phần đất được hưởng cho vợ chồng bà Nguyễn Thị Bảo K và ông Đặng Văn Q số tiền 269.640.000 đồng.
2.4. Chia bà Nguyễn Thị Bảo K: Được toàn quyền sử dụng phần đất tại thửa đất số 172, tờ bản đồ số 40, tọa lạc khóm I, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 202395, do xã (nay là thành phố) Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng cấp cho ông Nguyễn Thành T2 và bà Lưu Nguyệt N vào ngày 03/02/2005. Phần đất có vị trí tứ cận, diện tích như sau:
- - Phía Đông giáp Trần Trung N2 có số đo 4,99m;
- - Phía Tây giáp đường V có số đo 0,16m + 4,84m;
- - Phía Nam giáp Châu Văn N3 có số đo 38,35m + 5,81m;
- - Phía Bắc giáp Trương Thị L1 có số đo 37,44m + 6,02m;
- Diện tích 217,9m² (loại đất LNK).
Bà Nguyễn Thị Bảo K có nghĩa vụ thanh toán chênh lệch giá trị tài sản thừa kế được hưởng cho:
- - Bà Lưu Nguyệt N số tiền 400.879.000 đồng (Bốn trăm triệu tám trăm bảy mươi chín nghìn đồng).
- - Ông Nguyễn Thành P số tiền 235.125.000 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng);
- - Bà Nguyễn Thị Bảo T1 số tiền 235.125.000 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Vợ chồng bà Nguyễn Thị Bảo K và ông Đặng Văn Q được quyền sở hữu các tài sản trên thửa đất bà K được phân chia thừa kế gồm: 01 căn nhà gắn liền trên phần đất có diện tích 104,6m². Kết cấu: Nền lát gạch men, vách tường gạch, khung bê tông cốt thép, trần thạch cao, mái lợp tôn; Mái che phía trước có diện tích 25,0m², kết cấu nền bê tông xi măng, khung sắt đỡ mái gỗ, lợp tôn; Mái che phía sau có diện tích 13,0m², kết cấu nền bê tông xi măng đỡ mái gỗ, lợp tôn; Mái che bên hông có diện tích 20,0m², kết cấu đỡ mái sắt, lợp tôn; Hàng rào bên hông nhà và phía trước dài 47,6m, cao 1,8m, kết cấu khung cột bê tông cốt thép, vách tường gạch (01 đoạn dài 11,3m có lưới B40) cửa rào sắt. Cây trồng trên đất gồm: 02 cây cau kiểng, 03 cây xoài và 01 cây vú sữa.
Vợ chồng bà Nguyễn Thị Bảo K và ông Đặng Văn Q được nhận số tiền 269.640.000 đồng do bà bà Lưu Nguyệt N thanh toán giá trị tài sản trên phần đất được hưởng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Các đương sự có nghĩa vụ thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với phần diện tích đất được phân chia thừa kế.
Ngoài ra, trong bản án còn quyết định về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, thẩm định giá, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 28/9/2023, bà N có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu phản tố của các bị đơn và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện hợp pháp của bà N không rút đơn khởi kiện, không rút kháng cáo; người đại diện hợp pháp của ông Q, bà K không rút đơn phản tố và các đương sự cũng không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Đối với những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung vụ án, kháng cáo của bà N là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận, áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N và không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà K, ông Q.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về sự vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Đặng Văn Q1, cháu Đặng Nguyễn Tiểu Q2 và người đại diện hợp pháp của 02 cháu: Hai cháu và người đại diện hợp pháp của hai cháu đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và cũng không có kháng cáo nên căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
- Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bà Lưu Nguyệt N đảm bảo về mặt hình thức và nội dung, đúng người có quyền kháng cáo, còn trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên đủ điều kiện để giải quyết, xét xử theo trình tự phúc thẩm.
- Xét kháng cáo của bà N, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà N khởi kiện yêu cầu chia thừa kế tài sản do ông Nguyễn Thành T2 (chồng bà) chết để lại nên cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về thừa kế tài sản là đúng.
- Về hàng thừa kế của ông T2: Trong quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự đều thừa nhận, bà N và ông T2 là vợ chồng, có với nhau tất cả là 03 người con chung gồm Nguyễn Thành P, Nguyễn Thị Bảo T1 và Nguyễn Thị Bảo K, không có con nuôi hay con riêng nào khác. Đến ngày 09/11/2010, ông T2 chết không để lại di chúc. Cha mẹ ông T2 cũng đều chết. Cấp sơ thẩm xác định, hàng thừa kế thứ nhất của ông T2 có 04 người gồm bà N, ông P, bà T1, bà K là chính xác, đúng quy định tại Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005, tương ứng với Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về di sản của ông T2 để lại: Trong quá trình chung sống, ông T2 và bà N tạo lập được tài sản là thửa đất số 172, tờ bản đồ số 40, diện tích 257,8m² (đo đạc thực tế còn 217,9m²), loại đất LNK, tọa lạc tại đường V, khóm I, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, được Ủy ban nhân dân thị xã S (nay là thành phố S) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 202395 ngày 03/02/2005 và thửa đất số 104, tờ bản đồ số 31, diện tích 36,2m² (đo đạc thực tế 51,9m²), loại đất ODT, tọa lạc tại đường V, khóm E, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, được Ủy ban nhân dân thành phố S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 825594 ngày 20/5/2008. Các bên đương sự đều thừa nhận nên đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, cấp sơ thẩm xác định di sản thừa kế của ông T2 là ½ giá trị của 02 phần đất này là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 634 Bộ luật Dân sự năm 2005, tương ứng với Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Theo Chứng thư thẩm định giá ngày 06/4/2023, quyền sử dụng đất thửa số 104 có giá thị trường 774.753.131 đồng, thửa số 172 có giá thị trường 1.106.254.331 đồng. Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N, chia di sản thừa kế của ông T2 để lại là ½ giá trị quyền sử dụng đất thửa 172 và 104 với số tiền tương ứng [(774.753.131 đồng + 1.106.254.331 đồng) x ½] : 4 = 235.125.932 đồng, làm tròn 235.125.000 đồng; bà N, ông P, bà K, bà T1 mỗi người 01 kỷ phần bằng nhau với số tiền 235.125.000 đồng là có căn cứ, đúng quy định tại khoản 2 Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005, tương ứng với khoản 2 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về tài sản trên đất:
- Trên thửa đất số 172, đường V có 01 căn nhà diện tích 104,6m², kết cấu nền lát gạch men, vách tường, khung bê tông cốt thép, trần thạch cao, mái lợp tol, các công trình phụ như mái che trước 25m², mái che sau 13m², mái che bên hông 20m², hàng rào bên hông nhà và phía trước dài 47,6m, cao 1,8m, cây trồng trên đất có 02 cây cao kiểng, 03 cây xoài, 01 cây vú sữa; bà K - ông Q và các con của ông, bà (cháu Q1, cháu Q2) đang ở và quản lý từ năm 2009 đến nay. Theo bà N, căn nhà này do bà bỏ tiền ra xây dựng, sửa chữa; ông Q, bà K cũng cho rằng vợ chồng ông, bà bỏ tiền ra xây dựng, sửa chữa với chi phí tổng cộng 356.337.000 đồng (làm tròn). Quá trình giải quyết vụ án, bà N không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh, còn vợ chồng ông Q, bà K có cung cấp đầy đủ hóa đơn, chứng từ chứng minh nên cấp sơ thẩm xác định ông Q, bà K bỏ chi phí ra xây dựng, sửa chữa căn nhà này là có căn cứ. Tuy nhiên, trong giai đoạn phúc thẩm, ông Huỳnh Minh H (người bán vật liệu xây dựng) xác nhận lại và khẳng định khi xây dựng căn nhà số A, đường V, bà N là người mua vật liệu xây dựng và trực tiếp trả tiền cho ông chứ không phải ông Q, do ông không biết giữa ông Q với bà N xảy ra tranh chấp nên khi ông Q nhờ ông xác nhận, ông nghĩ là người trong gia đình bà N nên xác nhận, đây là tình tiết mới so với ở giai đoạn sơ thẩm, do đó có căn cứ xác định trong tổng số tiền 356.337.000 đồng xây dựng, sửa chữa căn nhà này thì bà N có bỏ tiền mua vật liệu xây dựng là 106.431.000 đồng.
- Trên thửa đất số 104, đường V có 01 căn nhà 02 tầng tổng diện tích sàn 60m² và các công trình phụ như hàng rào phía trước dài 06m, cao 2,9m, hàng rào bên hông dài 08m, cao 1,8m; bà N đang ở và quản lý. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà N cũng cho rằng, căn nhà này bà bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa; ngược lại, ông Q, bà K cũng cho rằng mình bỏ tiền ra xây dựng, sửa chữa, làm ràng rào chi phí hết 269.640.000 đồng (làm tròn). Bà N không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh; còn ông Q, bà K cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh nên cấp sơ thẩm xác định ông Q, bà K bỏ chi phí ra xây dựng căn nhà này là có căn cứ. Trong giai đoạn phúc thẩm, bà N không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì thêm.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, bà N và vợ chồng ông Q, bà K đều muốn nhận được nhận hiện vật. Do bà N đang sinh sống tại căn nhà số 14 trên thửa đất số 104 đường V, còn vợ chồng ông Q, bà K, các con đang sinh sống ổn định tại căn nhà số A trên thửa đất số 172 đường V, ông P và bà T1 thì đều có nhà riêng, chỗ ở ổn định, nên cấp sơ thẩm xét xử giao toàn bộ căn nhà, đất tại số A cho bà N; chấp nhận yêu cầu phản tố của bà K và ông Q, buộc bà N có trách nhiệm hoàn trả giá trị căn nhà cho vợ chồng ông Q, bà K bỏ ra xây dựng, sửa chữa số tiền 269.640.000 đồng; đồng thời giao cho ông Q, bà K căn nhà, đất tại số A và có trách nhiệm trả lại phần giá trị quyền sử dụng đất cho các đồng thừa kế khác với số tiền 1.106.254.000 đồng (làm tròn) - 235.125.000 đồng = 871.129.000 đồng, cụ thể trả cho ông P 235.125.000 đồng, bà T1 235.125.000 đồng và bà N 400.879.000 đồng là có căn cứ và hợp lý, đảm bảo quyền lợi của các bên.
- Bà N kháng cáo yêu cầu được nhận toàn bộ hai thửa đất gắn liền với nhà cho bà, bà hoàn lại giá trị bằng tiền tương ứng với kỷ phần thừa kế mà ông P, bà T1 và bà K được nhận. Để chứng minh cho yêu cầu này, người đại diện hợp pháp của bà N cho rằng vợ chồng bà K, ông Q còn thửa đất khác diện tích 240m², thuộc thửa 1095, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp X, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Qua xác minh, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy, bà K đúng là có đứng tên thửa đất này, nhưng đã chuyển nhượng cho bà Đặng Hồng L2 vào ngày 31/10/2022. Như vậy, thực tế vợ chồng bà K, ông Q không còn chỗ ở nào khác và vợ chồng bà K, ông Q cũng đã ở ổn định từ năm 2009 đến nay, đã bỏ phần lớn số tiền ra xây dựng, sửa chữa căn nhà này, cho nên yêu cầu kháng cáo này của bà N là không có căn cứ để chấp nhận.
- Đối với kháng cáo của bà N, về việc yêu cầu không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Q, bà K. Như đã phân tích ở trên, trong giai đoạn phúc thẩm, có căn cứ xác định bà N có mua vật liệu xây dựng để xây dựng căn nhà số A, đường V hết 106.431.000 đồng và tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của ông Q, bà K cũng đồng ý hoàn trả lại cho bà N số tiền này khi được quyền sở hữu căn nhà số A đường V, còn các khoản chi phí khác để xây dựng căn nhà số A đường V, số A đường V thì bà N cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh, cho nên đối với yêu cầu kháng cáo này của bà N là được chấp nhận một phần.
- Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên về việc sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà N, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bà K và ông Q; chấp nhận một phần kháng cáo của bà N, căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm, buộc ông Q và bà K có nghĩa vụ hoàn trả cho bà N tiền mua vật liệu xây dựng để xây dựng căn nhà số A, đường V với số tiền là 106.431.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bản án sơ thẩm bị sửa nên căn cứ khoản 4 Điều 26 và khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án (gọi tắt là Nghị quyết số 326), Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định lại nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với ông Q, bà K, cụ thể ông Q và bà K còn phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 106.431.000 đồng x 5% = 5.321.550 đồng.
- Các phần khác trong quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm bị kháng cáo nên theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326 thì bà N không phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309, khoản 6 Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Lưu Nguyệt N.
-
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 112/2023/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, cụ thể như sau:
Căn cứ khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, 2, 3, 4 Điều 68, khoản 2 Điều 92, Điều 93, khoản 2 Điều 157, khoản 2 Điều 165, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 634, điểm a khoản 1 Điều 676, khoản 2 Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 612, Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 4, khoản 5 Điều 26, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Đặng Văn Q, về việc yêu cầu bà Lưu Nguyệt N trả lại cho ông giá trị xây dựng theo giá thị trường căn nhà tọa lạc số 14, đường V, khóm E, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng và căn nhà tọa lạc số A, đường V, khóm I, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Nguyệt N, về việc phân chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Thành T2. Cụ thể như sau:
- - Chia cho bà Lưu Nguyệt N: Một phần di sản thừa kế tương ứng với số tiền 235.125.000 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
- - Chia cho ông Nguyễn Thành P: Một phần di sản thừa kế tương ứng với số tiền 235.125.000 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
- - Chia cho bà Nguyễn Thị Bảo T1: Một phần di sản thừa kế tương ứng với số tiền 235.125.000 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
- - Chia cho bà Nguyễn Thị Bảo K: Một phần di sản thừa kế tương ứng với số tiền 235.125.000 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
-
Bà Lưu Nguyệt N được nhận và toàn quyền sử dụng phần đất tại thửa đất số 104, tờ bản đồ số 31, đường V, khóm E, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 825594, Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cấp cho ông Nguyễn Thành T2 và bà Lưu Nguyệt N vào ngày 20 tháng 5 năm 2008. Phần đất có vị trí tứ cận, diện tích như sau:
- - Hướng Đông giáp đường V có số đo 5,92m;
- - Hướng Tây giáp ông Huỳnh Đình K1 có số đo 4,39m;
- - Hướng Nam giáp bà Tè Thị Cẩm N1 có số đo 2,23m + 2,56m;
- - Hướng Bắc giáp ông Huỳnh Đình K1 có số đo 5,07m;
- Diện tích 51,9m² (loại đất ODT).
Bà Lưu Nguyệt N được quyền sở hữu các tài sản trên thửa đất gồm: 01 căn nhà 02 tầng, gắn liền trên phần đất có diện tích tầng trệt là 26,67m², tổng diện tích sàn 60,0m². Kết cấu: Nền lát gạch men, vách tường gạch, khung sàn bê tông cốt thép, trần thạch cao, mái lợp tôn; Mái che trước có diện tích 12,0m², kết cấu khung sắt hộp, lợp tôn; Hàng rào phía trước dài 6,0m, cao 2,9m, kết cấu cột bê tông cốt thép, khung sắt hộp, cửa sắt hộp; Hàng rào bên hông dài 8,0m, cao 1,8m, kết cấu cột bê tông cốt thép, vách tường gạch.
-
Bà Nguyễn Thị Bảo K được nhận và toàn quyền sử dụng phần đất tại thửa đất số 172, tờ bản đồ số 40, đường V, khóm I, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 202395, Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) S, tỉnh Sóc Trăng cấp cho ông Nguyễn Thành T2 và bà Lưu Nguyệt N vào ngày 03 tháng 02 năm 2005. Phần đất có vị trí tứ cận, diện tích như sau:
- - Hướng Đông giáp ông Trần Trung N2 có số đo 4,99m;
- - Hướng Tây giáp đường V có số đo 0,16m + 4,84m;
- - Hướng Nam giáp ông Châu Văn N3 có số đo 38,35m + 5,81m;
- - Hướng Bắc giáp bà Trương Thị L1 có số đo 37,44m + 6,02m;
- Diện tích 217,9m² (loại đất LNK).
Bà Nguyễn Thị Bảo K có nghĩa vụ thanh toán chênh lệch giá trị tài sản thừa kế được hưởng cho:
- - Bà Lưu Nguyệt N số tiền 400.879.000 đồng (Bốn trăm triệu tám trăm bảy mươi chín nghìn đồng).
- - Ông Nguyễn Thành P số tiền 235.125.000 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng);
- - Bà Nguyễn Thị Bảo T1 số tiền 235.125.000 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Bà Nguyễn Thị Bảo K và ông Đặng Văn Q được quyền sở hữu các tài sản trên thửa đất gồm: 01 căn nhà gắn liền trên phần đất có diện tích là 104,6m². Kết cấu: Nền lát gạch men, vách tường gạch, khung bê tông cốt thép, trần thạch cao, mái lợp tôn; Mái che phía trước có diện tích 25,0m², kết cấu nền bê tông xi măng, khung sắt đỡ mái gỗ, lợp tôn; Mái che phía sau có diện tích 13,0m², kết cấu nền bê tông xi măng đỡ mái gỗ, lợp tôn; Mái che bên hông có diện tích 20,0m², kết cấu đỡ mái sắt, lợp tôn; Hàng rào bên hông nhà và phía trước dài 47,6m, cao 1,8m, kết cấu khung cột bê tông cốt thép, vách tường gạch (01 đoạn dài 11,3m có lưới B40) cửa rào sắt. Cây trồng trên đất gồm: 02 cây cau kiểng, 03 cây xoài và 01 cây vú sữa.
Bà Nguyễn Thị Bảo K và ông Đặng Văn Q có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho bà Lưu Nguyệt N số tiền mua vật liệu xây dựng căn nhà trên thửa đất số 172 là 106.431.000 đồng (Một trăm lẻ sáu triệu bốn trăm ba mươi mốt nghìn đồng).
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị Bảo K và ông Đặng Văn Q. Buộc bà Lưu Nguyệt N có nghĩa vụ thanh toán giá trị tài sản trên phần đất tại thửa số 104 cho bà Nguyễn Thị Bảo K và ông Đặng Văn Q số tiền 269.640.000 đồng (Hai trăm sáu mươi chín triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng).
- Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả khoản tiền; hàng tháng, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Các đương sự có quyền và nghĩa vụ thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với phần diện tích đất được phân chia thừa kế.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bà Lưu Nguyệt N được miễn.
- - Bà Nguyễn Thị Bảo K phải chịu 11.756.250 đồng (Mười một triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi đồng); bà Nguyễn Thị Bảo K và ông Đặng Văn Q phải cùng liên đới chịu 5.321.550 đồng (Năm triệu ba trăm hai mươi mốt nghìn năm trăm năm mươi đồng); được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000685 ngày 09 tháng 9 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S, tỉnh Sóc Trăng và như vậy, ông bà được hoàn lại số tiền chênh lệch là 3.922.200 đồng (Ba triệu chín trăm hai mươi hai nghìn hai trăm đồng).
- - Hoàn trả lại cho ông Đặng Văn Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000653 ngày 25 tháng 7 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
- - Ông Nguyễn Thành P phải chịu 11.756.250 đồng (Mười một triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi đồng).
- - Bà Nguyễn Thị Bảo T1 phải chịu 11.756.250 đồng (Mười một triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi đồng).
-
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá:
- - Bà Lưu Nguyệt N phải chịu là 5.612.500 đồng (Năm triệu sáu trăm mười hai nghìn năm trăm đồng) và đã nộp xong.
- - Bà Nguyễn Thị Bảo K phải chịu 5.612.500 đồng (Năm triệu sáu trăm mười hai nghìn năm trăm đồng), bà Lưu Nguyệt N đã nộp tạm ứng trước nên bà Nguyễn Thị Bảo K phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Lưu Nguyệt N số tiền 5.612.500 đồng (Năm triệu sáu trăm mười hai nghìn năm trăm đồng).
- - Ông Nguyễn Thành P phải chịu 5.612.500 đồng (Năm triệu sáu trăm mười hai nghìn năm trăm đồng), bà Lưu Nguyệt N đã nộp tạm ứng trước nên ông Nguyễn Thành P phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Lưu Nguyệt N số tiền 5.612.500 đồng (Năm triệu sáu trăm mười hai nghìn năm trăm đồng).
- - Bà Nguyễn Thị Bảo T1 phải chịu 5.612.500 đồng (Năm triệu sáu trăm mười hai nghìn năm trăm đồng), bà Lưu Nguyệt N đã nộp tạm ứng trước nên bà Nguyễn Thị Bảo T1 phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Lưu Nguyệt N số tiền 5.612.500 đồng (Năm triệu sáu trăm mười hai nghìn năm trăm đồng).
-
Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Lưu Nguyệt N không phải chịu.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Hoàng Lâm |
Bản án số 122/2024/DS-PT ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp chia thừa kế tài sản
- Số bản án: 122/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp chia thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sau khi xét xử sơ thẩm, đến ngày 28/9/2023, bà N có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu phản tố của các bị đơn và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà.
