|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 122/2023/HS-ST
Ngày: 02-11-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Vũ Thị Phương Hạnh
- Bà Lê Thị Quỳnh Nga.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Nữ Lệ Chi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Như Điểm - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 119/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:
TRẦN MINH H - Sinh năm 1987, tại Bà Rịa – Vũng Tàu.
Hộ khẩu thường trú: Tổ 10, ấp Đ, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Chỗ ở: Tổ 10, ấp Đ, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nghề ngH: Sửa xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Trần Mạnh H, sinh năm 1958; Mẹ: Phan Thị Đ, sinh năm 1957.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo Trần Minh H: Ông Phạm Văn Ngọc, sinh năm 1978 - Luật sư Văn phòng Luật sư Pháp Lý Ngọc thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có mặt).
Bị hại: Ông Hoàng Quốc Thanh Q, sinh năm 2002 (có đơn xin vắng mặt).
Trú tại: Tổ 8, ấp Bắc, xã Long Phước, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Tây, xã Hòa Long, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 08/09/2022, anh Hoàng Quốc Thanh Q mang 01 xe mô tô hiệu Honda Future Neo Fi125, biển số 72D1-318.30 đến tiệm sửa xe Tiến Đạt tại tổ 10, ấp Đông, xã Long Phước, thành phố Bà Rịa để giao cho Trần Minh H là thợ sửa xe để sữa chữa vì xe bị nứt, vỡ lốc máy gây chảy nhót. H nhận sửa xe và hứa với anh Quang thời gian sửa xe khoảng 01 tháng và chi phí sửa xe khoảng từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng bao gồm vỏ lốc máy và tiền công sửa chữa. Anh Q đồng ý và để xe lại cho H sửa chữa. Sau đó, anh Q thường xuyên đến tiệm sửa xe Tiến Đạt để hỏi thì H đề nghị anh Q đưa giấy đăng ký xe cho H để đi đóng số máy. Anh Q đưa cho H giấy đăng ký xe và giao cho H số tiền 2.900.000 đồng để ứng trước chi phí mua phụ tùng thay thế, sửa chữa xe.
Sau đó, H đã đặt cọc 200.000 đồng để mua lốc máy tại cửa hàng xe máy Lộc Ngân, phường Phước Trung, thành phố Bà Rịa. Ngày 14/10/2022, do cần tiền tiêu xài, H tự ý mang chiếc xe mô tô biển số 72D1-318.30, giấy chứng nhận đăng ký xe bản chính và căn cước công dân photo của H đến tiệm cầm đồ Tư Tọ của bà Nguyễn Thị L tại ấp Tây, Hòa Long, thành phố Bà Rịa cầm với số tiền 17.000.000 đồng. Sau khi cầm xe, H rời khỏi địa phương và không liên lạc với anh Q.
Đến tháng 6/2023, anh Q phát hiện chiếc xe mô tô biển số 72D1-318.30 đang cầm tại tiệm cầm đồ Tư Tọ nên đến công an xã Long Phước trình báo. Bà Nguyễn Thị L đã tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô nêu trên cho cơ quan công an.
Tại Kết luận định giá tài sản số 145/KL-HĐĐGTS ngày 01/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thành phố Bà Rịa kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future biển số 72D1-318.30, số máy JC35B7013643, số khung 35019Y606718; đã qua sử dụng, màu đen xám bạc, dung tích 124,8cm³, đăng ký lần đầu năm 2009, bị nứt vỡ lốc máy chảy nhót, trị giá 11.000.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 245/KL-KTHS-SKSM ngày 19/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xác định số khung RLHJC35019Y606718, số máy JC35E-7013643 của xe mô tô biển số 72D1-318.30 là nguyên thủy.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Bà Rịa đã trả lại cho người bị hại anh Quang 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future biển số 72D1-318.30.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Hoàng Quốc Thanh Q đã nhận 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future biển số 72D1-318.30, số tiền 2.900.000 đồng, người có quyền và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L đã được bị cáo H bồi thường số tiền 17.000.000 đồng và hiện không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 123/CT-VKSBR ngày 11-10-2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa đã truy tố Trần Minh H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi trái pháp luật của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Minh H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị áp dụng Điều 38, khoản 1 Điều 175, điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo H từ 06 đến 09 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Minh H - Luật sư Phạm Văn Ngọc trình bày tại phiên toà:
Người bào chữa cho bị cáo đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt. Bên cạnh đó đưa ra một số quan điểm phân tích thêm tình tiết giảm nhẹ để bào chữa cho bị cáo như sau: Xét thấy hành vi của bị cáo gây thiệt hại không lớn nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo có thời gian phục vụ trong quân ngũ, có cha là thương binh, là lao động chính trong gia đình, bị cáo ra đầu thú về hành vi phạm tội của bản thân. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết này để cân nhắc quyết định hình phạt tương ứng với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện chăm sóc gia đình người thân.
Bị cáo nói lời nói sau cùng nhận thấy hành vi của mình là sai trái, bị cáo hứa sẽ sửa chữa không tái phạm, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ để bị cáo có cơ hội sửa chữa bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bà Rịa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trần Minh H đã khai nhận toàn bộ hành vi trái pháp luật của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, người liên quan phù hợp với vật chứng thu giữ được và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ căn cứ kết luận: Sau khi nhận chiếc xe mô tô hiệu Honda Future biển số 72D1-318.30 của anh Hoàng Quốc Thanh Q để sửa chữa, Trần Minh H đã có hành vi chiếm đoạt chiếc xe nói trên bằng hình thức đem cầm lấy tiền tiêu xài rồi bỏ trốn. Hành vi sau khi nhận được chiếc xe mô tô hiệu Honda Future biển số 72D1-318.30 trị giá 11.000.000 đồng của anh Q thông qua hợp đồng sửa chữa rồi nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản và bỏ trốn nêu trên của Trần Minh H đã đủ dấu hiệu cấu
thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự, đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
[3]. Hành vi của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác; gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, bị cáo nhận thức được hành vi nhận được tài sản rồi bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì tham lam nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng đủ để tiếp tục cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm trong xã hội.
[4]. Tuy nhiên, cũng cần xem xét tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và người liên quan; tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo; bị cáo có thời gian phục vụ trong quân ngũ, là lao động chính trong gia đình để cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS, không có tình tiết tăng nặng và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục và thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.
[5]. Xét quan điểm của người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn cho bị cáo. Xét thấy, hành vi của bị cáo đã gây thiệt hại cho người bị hại nên không có đủ cơ sở để áp dụng tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Q đã nhận 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future biển số 72D1-318.30, số tiền 2.900.000 đồng, người có quyền và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L đã được bị cáo H bồi thường số tiền 17.000.000 đồng và hiện không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về án phí: Bị cáo H phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
1/ Áp dụng khoản 1 Điều 175, điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Trần Minh H 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án (02/11/2023).
Giao bị cáo H cho Ủy ban nhân dân xã Long Phước, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình bị cáo H có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật Hình sự.
2/ Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Minh H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (02-11-2023), bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Người bị hại, người liên quan vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Anh |
Bản án số 122/2023/HS-ST ngày 02/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 122/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
