|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 122/2022/HS-ST Ngày 02-11-2022 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Tư
Bà Lý Thị Thiên Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Đình Hưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 119/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Lê Tiến Đ, sinh ngày 10/12/2000 tại thành phố Hải Phòng; Nơi cư trú: Số 19/51 đường P, phường Đ, quận H, thành phố H; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Tự do; con ông Lê Văn Th và bà Nguyễn Thị T; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai, chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Tạm giữ từ ngày 14/6/2022, đến ngày 21/6/2022 chuyển tạm giam, có mặt.
2. Trần Duy M, sinh ngày 09/8/2002 tại thành phố Hải Phòng; Nơi cư trú: Số 5/250 đường P, phường Đ, quận H, thành phố H; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông Trần Duy C và bà Đinh Thị Thu H. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; biện pháp ngăn chặn: Tạm giữ từ ngày 14/6/2022, đến ngày 21/6/2022 chuyển tạm giam, có mặt.
3. Vũ Xuân Tr, sinh ngày 11/8/2000 tại thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Số 25/225 đường P, phường Đ, quận H, thành phố H; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Tự do; con ông Vũ Xuân V và bà Lê Thị H, gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; biện pháp ngăn chặn: Tạm giữ từ ngày 15/6/2022, đến ngày 21/6/2022 chuyển tạm giam, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do kinh tế khó khăn nên từ khoảng tháng 4 năm 2022, Trần Duy M nảy sinh ý định mua ma túy về bán kiếm lời. Qua quen biết xã hội M biết Lê Tiến Đ bán ma túy cần sa, nên M đến liên hệ mua cần sa của Đ, mỗi lần M mua 13.000.000 đồng được 01 gói nilon kích thước khoảng 12 x 18cm. M mang gói cần sa về xay nhỏ rồi cuộn được khoảng 200 điếu, mỗi điếu có đường kính khoảng 0,3cm, dài khoảng 7cm, M bán với giá 100.000 đồng/ điếu. Nếu bán trót lọt gói cần sa như trên thì M kiếm lời khoảng 7.000.000 đồng. M đã mua cần sa của Đ nhiều lần nhưng chỉ nhớ hai lần gần nhất: Lần 1 vào ngày 5/6/2022, M mua của Đ 01 gói cần sa mang về xay nhỏ cuộn thành nhiều điếu bán cho nhiều người không quen biết, trong đó M nhớ khoảng 17 giờ ngày 10/6/2022, M có bán cho Bùi Quang A (sinh năm 1995, trú tại nhà số 5/41/106 đường L, phường L, quận N, thành phố H) 02 điếu cần sa với giá 200.000 đồng tại khu vực đầu ngõ 250 Phương Lưu. Lần 2 vào ngày 12/6/2022, M tiếp tục đến mua của Đ 01 gói cần sa với giá 13.000.000 đồng mang về xay nhỏ đã cuộn được 130 điếu, còn lại một ít cần sa M cất giấu trong phòng ngủ. Cùng ngày 12/6/2022, M đã bán được 10 điếu cho những người khách không quen biết và bán cho Phạm Bá D 02 điếu với giá 200.000 đồng tại khu vực đầu ngõ 250 Phương Lưu. Đến khoảng 17 giờ ngày 14/6/2022, M tiếp tục bán cho Phạm Bá D 02 điếu cần sa với giá 200.000 đồng tại đầu ngõ 250 Phương Lưu. D cất giấu 02 điếu cần sa vào túi quần phía trước bên phải đang mặc, rồi đi về đến khu vực đầu đường vòng Vạn Mỹ thì bị Công an quận Ngô Quyền kiểm tra bắt quả tang. Thu giữ của D 02 điếu cuộn bằng giấy trắng, mỗi điếu có chiều dài khoảng 7cm, bên trong chứa thảo mộc khô (mẫu số 1). D khai là ma túy cần sa vừa mua của Trần Duy M. Lực lượng Công an đưa Phạm Bá D về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng để giám định.
Kết quả khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật của Phạm Bá D, không phát hiện đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy. Khoảng 20 giờ ngày 14/6/2022, Cơ quan điều tra tiến hành giữ người trong Tr hợp khẩn cấp đối với Trần Duy M, thu giữ trên tay M 04 điếu cuộn bằng giấy trắng, mỗi điếu dài khoảng 7cm, bên trong chứa thảo mộc khô (mẫu số 2), 01 điện thoại Iphone màu xanh nắp sim số 0842299655.
Khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật của Trần Duy M, kết quả: Thu giữ tại gầm bàn máy tính: 01 hộp nhựa màu trắng trong chứa thảo mộc khô (mẫu số 3); 110 điếu thuốc cuộn bằng giấy trắng, mỗi điếu dài 7cm trong chứa thảo mộc khô (mẫu số 4); 01 hộp hình chữ nhật màu đen kích thước 30 x 20 x 10cm trong có 02 hộp giấy dạng bao thuốc lá, 04 hộp giấy cuộn nhãn hiệu ROUIES và một số vỏ gói nilon kích thước các loại. Thu giữ tại góc nhà cạnh đầu giường: 01 máy xay sinh tố trong cốc xay bám dính thảo mộc khô vụn (mẫu số 5). Thu giữ tại ghế băng trước cửa nhà: 01 vỏ bao thuốc lá vinataba trong có 02 điếu thuốc cuộn bằng giấy trắng, mỗi điếu dài 7cm trong chứa thảo mộc khô (mẫu số 6). Thu trên mặt bàn máy tính: 01 cân tiểu ly, 01 kéo sắt trắng dài 15cm.
Đến khoảng 23 giờ ngày 14/6/2022, Cơ quan điều tra tiến hành giữ người trong Tr hợp khẩn cấp đối với Lê Tiến Đ, khi Đ đang cùng với Vũ Xuân Tr mang cần sa đi bán tại khu vực ngõ 250 Phương Lưu. Thu giữ của Đ 01 gói nilon kích thước 12 x 18cm chứa thảo mộc khô (mẫu số 7), 02 viên nén hình tròn màu xanh có đường kính 0,3cm một mặt dập lo gô chữ “LV” (mẫu số 8), 01 điện thoại Iphone 7 plus màu đỏ nắp sim số 0896.691.200. Đ khai gói nilon là ma túy cần sa, còn 02 viên nén là thuốc lắc mua về để bán. Đồng thời, dẫn giải Vũ Xuân Tr về trụ sở làm rõ. Đến ngày 15/6/2022, Cơ quan điều tra tiến hành giữ người trong Tr hợp khẩn cấp đối với Vũ Xuân Tr, thu giữ của Tr 01 điện thoại Iphone màu vàng nắp sim số 0946.942.089, 01 xe mô tô biển kiểm soát 15B4-191.66.
Khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật của Lê Tiến Đ; Vũ Xuân Tr không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.
Tại Kết luận giám định số 277/KL-KTHS(MT) ngày 17/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Thảo mộc khô, vụn của các mẫu số 1 có khối lượng 0,41 gam; mẫu số 2 có khối lượng 0,78 gam; mẫu số 3 có khối lượng 31,31 gam; mẫu số 4 có khối lượng 21,85 gam; mẫu số 6 có khối lượng 0,43 gam; mẫu số 7 có khối lượng 49,89 gam đều là ma túy, loại cần sa (hoa, lá cây cần sa); Thảo mộc khô, vụn bám dính trong cốc xay thủy tinh của mẫu số 5 là ma túy, loại cần sa (hoa, lá cây cần sa). Không đủ điều kiện xác định khối lượng ma túy bám dính trên; 02 viên nén màu xanh của mẫu số 8 là ma túy, có khối lượng 0,67 gam, là loại MDMA.
Quá trình điều tra, Phạm Bá D, Trần Duy M khai nhận toàn bộ hành vi nêu trên.
Lê Tiến Đ, Vũ Xuân Tr khai: Do kinh tế khó khăn nên từ khoảng tháng 3 năm 2022, Đ nảy sinh ý định mua ma túy về bán kiếm lời. Qua quen biết xã hội Đ biết đối tượng tên Nam ở khu vực chợ Xâm Bồ, phường Nam Hải, quận Hải An, Hải Phòng bán ma túy cần sa, nên Đ liên hệ với Nam mua cần sa. Khi có khách hỏi mua cần sa của Đ thì Đ lại đến mua cần sa của Nam về bán cho khách kiếm lời. Đ đã bán cần sa nhiều lần cho nhiều người nhưng chỉ nhớ hai lần gần nhất Đ bán cho Trần Duy M vào các buổi tối ngày 05/6/2022 và ngày 12/6/2022 tại khu vực ngõ 250 Phương Lưu, phường Đông Hải 1, quận Hải An, Hải Phòng, mỗi lần 01 gói cần sa với giá 13.000.000 đồng/ gói, Đ kiếm lời 2.000.000 đồng/ gói. Tối ngày 13/6/2022, Đ đến khu vực đường Vũ Chí Thắng mua của đối tượng tên Long (không rõ lai lịch, địa chỉ) 02 viên thuốc lắc (mỗi viên hình tròn màu xanh có đường kính 0,3cm, một mặt dập lo gô chữ “LV”) với giá 200.000 đồng/ viên. Đ mang theo dự định bán với giá 230.000 đồng/ viên, nếu bán trót lọt Đ kiếm lời 30.000 đồng/ viên.
Đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 14/6/2022, Đ đang ở nhà thì có người đàn ông không quen biết đến nhà Đ hỏi mua ma túy cần sa, Đ đồng ý bán và hẹn khách giao ma túy lại khu vực đường Phương Lưu, quận Hải An, Hải Phòng. Sau đó, Đ gọi điện nói cho Vũ Xuân Tr biết là có khách hỏi mua cần sa, Đ bảo Tr đến chở Đ đi mua cần sa về bán cho khách, Tr đồng ý. Tr điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15B4-191.66 đến đón chở Đ đến khu vực chợ Xâm Bồ, phường Nam Hải, quận Hải An, Hải Phòng mua cần sa, đến nơi Tr đứng ở đầu ngõ đợi còn Đ vào gặp đối tượng tên Nam (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua 01 gói cần sa với giá 11.000.000 đồng, Đ hẹn Nam sẽ trả tiền sau, Nam đồng ý và bán cho Đ 01 gói nilon kích thước 12x18cm trong là ma túy cần sa. Đ cầm gói cần sa rồi ra xe Tr chở Đ về điểm hẹn để bán cho khách. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi Tr chở Đ đi về đến khu vực ngõ 250 Phương Lưu thì bị lực lượng Công an quận Ngô Quyền giữ khẩn cấp Đ về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Lực lượng Công an dẫn giải cả Tr về trụ sở để làm rõ.
Bùi Quang A khai đã mua ma túy cần sa của Trần Duy M nhiều lần, nhưng chỉ nhớ lần gần nhất vào tối ngày 10/6/2022, Quang Anh đến mua của M 02 điếu cần sa với số tiền 200.000 đồng và đã sử dụng hết.
- Về xử lý vật chứng:
+ Đối với xe mô tô biển kiểm soát 15B4-191.66, đăng ký xe mang tên Vũ Xuân Tr. Tr và gia đình Tr cho biết xe là tài sản chung của cả gia đình sử dụng, khi mua xe gia đình để Tr đứng tên đăng ký xe, việc Tr dùng xe chở Lê Tiến Đ đi mua bán ma túy gia đình Tr không biết. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho gia đình Tr.
+ Đối với 01 bì giấy dấu niêm phong số 277MT/PC09 chứa số ma túy còn lại sau giám định (từ mẫu số 1 đến mẫu số 4; từ mẫu số 6 đến mẫu số 8); 01 hộp giấy dấu niêm phong số 277MT-A/PC09 chứa 01 cốc xay thủy tinh có nắp nhựa của mẫu số 5 sau khi xử lý mẫu giám định; 01 vỏ bao thuốc lá vinataba; 01 hộp nhựa màu trắng; 01 hộp hình chữ nhật màu đen kích thước 30 x 20 x 10cm bên trong có 02 hộp giấy dạng bao thuốc lá, 04 hộp giấy cuộn nhãn hiệu ROUIES và một số vỏ gói nilon kích thước các loại; 01 máy xay sinh tố; 01 cân tiểu ly; 01 kéo sắt màu trắng dài khoảng 15cm; 01 điện thoại Iphone màu xanh nắp sim số 0842299655, 01 điện thoại Iphone màu đỏ nắp sim số 0896691200, 01 điện thoại Iphone màu vàng nắp sim số 0946942089, chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền chờ xử lý.
Tại Bản Cáo trạng số 127/CT-VKS ngày 05/10/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Lê Tiến Đ, Trần Duy M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Vũ Xuân Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự .
Tại phiên toà các bị cáo Lê Tiến Đ, Trần Duy M, Vũ Xuân Tr khai nhận toàn bộ nội dung vụ án như cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tại phiên toà rút một phần truy tố theo điểm p khoản 2 Điều 251 “có hai chất ma túy trở lên...” đối với bị cáo Lê Tiến Đ và giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Trần Duy M và Vũ Xuân Tr và đề nghị Hội đồng xét xử
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 17, Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Lê Tiến Đ với mức án từ 7 năm 06 tháng tù đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; không đề nghị hình phạt bổ sung do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 17, Điều 58; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Trần Duy M với mức án từ 07 năm tù đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; không đề nghị hình phạt bổ sung do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điều 17, Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Vũ Xuân Tr với mức án từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; không đề nghị hình phạt bổ sung do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự về xử lý vật chứng: Đối với 01 bì giấy dấu niêm phong số 277MT/PC09 chứa số ma túy còn lại sau giám định (từ mẫu số 1 đến mẫu số 4; từ mẫu số 6 đến mẫu số 8); 01 hộp giấy dấu niêm phong số 277MT-A/PC09 chứa 01 cốc xay thủy tinh có nắp nhựa của mẫu số 5 sau khi xử lý mẫu giám định; 01 vỏ bao thuốc lá vinataba; 01 hộp nhựa màu trắng; 01 hộp hình chữ nhật màu đen kích thước 30 x 20 x 10cm bên trong có 02 hộp giấy dạng bao thuốc lá, 04 hộp giấy cuộn nhãn hiệu ROUIES và một số vỏ gói nilon kích thước các loại; 01 máy xay sinh tố; 01 cân tiểu ly; 01 kéo sắt màu trắng dài khoảng 15cm. Xét vật chúng không còn giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy;
Đối với 01 điện thoại Iphone màu xanh lắp sim số 0842299655, 01 điện thoại Iphone màu đỏ lắp sim số 0896691200, 01 điện thoại Iphone màu vàng lắp sim số 0946942089 là điện thoại của các bị cáo và là phương tiện các bị cáo liên hệ dùng vào việc phạm tội, vì vậy đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền). Buộc bị cáo Trần Duy M phải nộp lại 7.490.000 (bẩy triệu, bốn trăm chín mươi nghìn đồng); bị cáo Lê Tiến Đ nộp lại 4.000.000 (bốn triệu đồng) để sung quỹ nhà nước
Về án phí: Các bị cáo Lê Tiến Đ, Trần Duy M, Vũ Xuân Tr mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Sau khi đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở lại xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
- Về tội danh
[2] Lời khai của các bị cáo Lê Tiến Đ, Trần Duy M, Vũ Xuân Tr tại phiên toà phù hợp với nội dung vụ án nêu trên thể hiện: Bị cáo Trần Duy M đã có hành vi mua ma túy cần sa của Lê Tiến Đ về xay nhỏ rồi cuộn thành nhiều điếu bán cho nhiều người. Bị cáo Vũ Xuân Tr có hành vi chở Lê Tiến Đ đi mua 01 gói ma túy cần sa và khi đang chở Đ về đến ngõ 250 đường Phương Lưu thì bị bắt giữ. Tại Kết luận giám định số 277/KL-KTHS(MT) ngày 17/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Thảo mộc khô, vụn của các mẫu số 1 có khối lượng 0,41 gam; mẫu số 2 có khối lượng 0,78 gam; mẫu số 3 có khối lượng 31,31 gam; mẫu số 4 có khối lượng 21,85 gam; mẫu số 6 có khối lượng 0,43 gam; mẫu số 7 có khối lượng 49,89 gam đều là ma túy, loại cần sa (hoa, lá cây cần sa); Thảo mộc khô, vụn bám dính trong cốc xay thủy tinh của mẫu số 5 là ma túy, loại cần sa (hoa, lá cây cần sa). Không đủ điều kiện xác định khối lượng ma túy bám dính trên; 02 viên nén màu xanh của mẫu số 8 là ma túy, có khối lượng 0,67 gam, là loại MDMA. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Lê Tiến Đ, Trần Duy M, Vũ Xuân Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[3] Về tình tiết định khung tăng nặng:
Bị cáo Lê Tiến Đ đã 03 lần bán ma túy cần sa, trong đó, Đ bán cho Trần Duy M 02 lần vào các ngày 05/6/2022 và ngày 12/6/2022, mỗi lần 01 gói cần sa với số tiền 13.000.000 đồng tại ngõ 250 Phương Lưu, kiếm lời 4.000.000 đồng. Lần 3 vào tối ngày 14/6/2022 có khách đến hỏi mua ma túy cần sa, Đ rủ Vũ Xuân Tr đi mua 01 gói cần sa có khối lượng 49,89 gam mang về để bán cho khách thì bị giữ khẩn cấp. Ngoài ra, Đ còn cất giữ 02 viên MDMA có khối lượng 0,67 gam mục đích để bán kiếm lời. Tổng khối lượng ma túy cần sa Đ mua bán chứng M được là 104,67g, tổng tỉ lệ phần trăm về khối lượng của MDMA và cần sa so với mức tối thiểu đối với từng chất là 0,134% + 0,010467% = 0,144467% thuộc Tr hợp dưới 100%.
Bị cáo Trần Duy M mua ma túy cần sa của Đ về xay nhỏ rồi cuộn thành nhiều điếu bán cho nhiều người. Trong đó đã chứng M được 03 lần M bán ma túy cần sa, cụ thể: Ngày 10/6/2022, M bán cho Bùi Quang Anh 02 điếu với số tiền 200.000 đồng; Ngày 12/6/2022, M bán cho Phạm Bá D 02 điếu với số tiền 200.000 đồng; Ngày 14/6/2022, M tiếp tục bán cho Phạm Bá D 02 điếu với số tiền 200.000 đồng.
Bị cáo Vũ Xuân Tr chở Lê Tiến Đ đi mua 01 gói cần sa có khối lượng 49,89 gam mang về để bán cho khách là đồng phạm giúp sức cho Đ thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Vì vậy có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Lê Tiến Đ, Trần Duy M phạm tội hai lần trở lên quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 và bị cáo Vũ Xuân Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015
[4] Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền truy tố các bị cáo về tội danh, tại phiên tòa Kiểm sát viên rút truy tố về tình tiết định khung “có hai chất ma túy trở lên...” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Tiến Đ là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật, đúng với hành vi các bị cáo đã thực hiện, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về trao đổi các chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[6] Các bị cáo Lê Tiến Đ, Trần Duy M, Vũ Xuân Tr mặc dù chưa có tiền án, tiền sự nhưng phạm tội mua bán trái phép chất ma túy là lại tội phạm rất nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khỏe của người khác đồng thời là nguồn gốc để các đối tượng nghiện phạm các loại tội phạm khác gây mất trật tự xã hội. Vì vậy cần phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian đủ để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo. Song cũng xét tại cơ quan điều tra và tại phiên toà các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Trần Duy M gia đình có người thân có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và là căn cứ khi Hội đồng xét xử lượng hình đối với bị cáo. Do các bị cáo không có thu nhập và công việc ổn định nên không cần thiết bắt các bị cáo chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
- Đánh giá vai trò đồng phạm:
[7] Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất đơn giản, do không có công việc ổn định và hám lợi nhuận cao. Vì vậy các bị cáo mới nẩy sinh ý định mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo Lê Tiến Đ là kẻ chủ mưu cầm đầu, vì vậy bị cáo Lê Tiến Đ phải chịu mức hình phạt cao nhất. Bị cáo Trần Duy M đồng phạm giúp sức tích cực và trực tiếp bán cho các đối tượng nghiện, nên bị cáo Trần Duy M phải chịu mức hình phạt thấp hơn bị cáo Lê Tiến Đ. Bị cáo Vũ Xuân Tr chỉ 01 lần chở Lê Tiến Đ đi mua ma túy và chở về cùng bị cáo Đ bán ma túy cho đối tượng nghiện thì bị bắt. Vì vậy vai trò đồng phạm trong phân hóa tội phạm bị cáo Tr có vai trò thấp nhất và chỉ chịu mức hình phạt thấp nhất trong các bị cáo.
- Đối với số tiền thu lợi bất chính:
[8] Bị cáo Trần Duy M đã thực hiện mua ma túy cần sa lần đầu với số tiền 13.000.000 đồng của bị cáo Lê Tiến Đ về bán cho các đối tượng nghiện thu được 20.000.000 đồng và bị cáo Trần Duy M đã thu lời được 7.000.000 đồng. Lần 2 bị cáo M mua của bị cáo Đ số ma túy cần sa 13.000.000 đồng, về bị cáo M mới bán được 14 điếu ma túy cần sa, mỗi điếu bị cáo M thu lời được 35.000 đồng, tổng 14 điều đã bán bị cáo thu lời được 490.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo Trần Duy M thu lời bất chính về hành vi mua bán ma túy cần sa trái phép là 7.490.000 đồng. Vì vậy buộc bị cáo Trần Duy M phải nộp lại 7.490.000 đồng để sung quỹ nhà nước.
Bị cáo Lê Tiến Đ đã hai lần đi mua cần sa của người đàn ông không quen biết mỗi lần với số tiền là 11.000.000 đồng và về bán ma túy cần sa cho bị cáo Trần Duy M với số tiền là 13.000.000 đồng. Tổng hai lần bán thu lời bất chính được 4.000.000 đồng, vì vậy buộc bị cáo Lê Tiến Đ phải nộp lại 4.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước.
- Về xử lý vật chứng:
[9] Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đối với 01 bì giấy dấu niêm phong số 277MT/PC09 chứa số ma túy còn lại sau giám định (từ mẫu số 1 đến mẫu số 4; từ mẫu số 6 đến mẫu số 8); 01 hộp giấy dấu niêm phong số 277MT-A/PC09 chứa 01 cốc xay thủy tinh có nắp nhựa của mẫu số 5 sau khi xử lý mẫu giám định; 01 vỏ bao thuốc lá vinataba; 01 hộp nhựa màu trắng; 01 hộp hình chữ nhật màu đen kích thước 30 x 20 x 10cm bên trong có 02 hộp giấy dạng bao thuốc lá, 04 hộp giấy cuộn nhãn hiệu ROUIES và một số vỏ gói nilon kích thước các loại; 01 máy xay sinh tố; 01 cân tiểu ly; 01 kéo sắt màu trắng dài khoảng 15cm. Xét không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại Iphone màu xanh nắp sim số 0842299655, 01 điện thoại Iphone màu đỏ nắp sim số 0896691200, 01 điện thoại Iphone màu vàng nắp sim số 0946942089 của các bị cáo là phương tiện các bị cáo liên hệ dùng vào việc phạm tội đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền).
[10] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Quyền kháng cáo đối với bản án:
[11] Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, Điều 17, 58 điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lê Tiến Đ 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2022.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, Điều 17, 58 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trần Duy M 07 (bẩy) năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2022.
Căn cứ khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vũ Xuân Tr 24(hai mươi tư) tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2022.
Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sư; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 bì giấy dấu niêm phong số 277MT/PC09 chứa số ma túy còn lại sau giám định (từ mẫu số 1 đến mẫu số 4; từ mẫu số 6 đến mẫu số 8); 01 hộp giấy dấu niêm phong số 277MT-A/PC09 chứa 01 cốc xay thủy tinh có nắp nhựa của mẫu số 5 sau khi xử lý mẫu giám định; 01 vỏ bao thuốc lá vinataba; 01 hộp nhựa màu trắng; 01 hộp hình chữ nhật màu đen kích thước 30 x 20 x 10cm bên trong có 02 hộp giấy dạng bao thuốc lá, 04 hộp giấy cuộn nhãn hiệu ROUIES và một số vỏ gói nilon kích thước các loại; 01 máy xay sinh tố; 01 cân tiểu ly; 01 kéo sắt màu trắng dài khoảng 15cm.
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone màu xanh nắp sim số 0842299655, 01 điện thoại Iphone màu đỏ nắp sim số 0896691200, 01 điện thoại Iphone màu vàng nắp sim số 0946942089 (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền).
Buộc bị cáo Trần Duy M phải nộp lại 7.490.000 (bẩy triệu, bốn trăm chín mươi nghìn đồng); bị cáo Lê Tiến Đ nộp lại 4.000.000 (bốn triệu đồng) để sung quỹ nhà nước.
Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Lê Tiến Đ, Trần Duy M, Vũ Xuân Tr. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Lê Tiến Đ, Trần Duy M, Vũ Xuân Tr có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Tr hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Giang |
Bản án số 122/2022/HS-ST ngày 02/11/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 122/2022/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/11/2022
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phéo chất ma túy
