Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 122/2021/KDTM-PT

Ngày 21/6/2021

V/v "Tranh chấp hợp đồng kinh tế"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Sơn
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Ông Nguyễn Xuân Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 21/6/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 72/2021/TLPT-KDTM ngày 12/4/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về việc “Tranh chấp hợp đồng kinh tế”.

Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 67/2020/KDTM-ST ngày 25/12/2020 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 279/2021/QĐ-PT ngày 17/5/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 341/2021/QĐ-PT ngày 02/6/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 371/2021/QĐ-PT ngày 11/6/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty T

Địa chỉ: phường M, quận N, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Park Seok B – Tổng giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị H – Nhân viên pháp chế; có mặt

- Bị đơn: Công ty H

Địa chỉ: đường P, phường P, quận H, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Văn C – Tổng giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc H – Kế toán trưởng; có mặt

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Vũ Thị H, Luật sư của Công ty Luật TNHH Đ, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. Địa chỉ: đường N, quận T, Hà Nội; có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai, nguyên đơn và người đại diện của nguyên đơn trình bày:

Ngày 31/5/2015, Công ty T với tư cách là nhà thầu cung cấp lắp đặt cùng với Công ty H với tư cách là chủ đầu tư ký hợp đồng cung cấp lắp đặt thang máy số 3110/2015/HĐCC-LĐ ngày 31/10/2015. Theo đó, Công ty T nhận cung cấp và lắp đặt 07 thang máy cho dự án Tòa nhà hỗn hợp dịch vụ thương mại và nhà ở tại đường P, quận H, Hà Nội với tổng giá trị hợp đồng là 8.628.290.000 đồng. Đến ngày 28/7/2017, hệ thống thang máy của dự án đã được hai bên nghiệm thu hoàn thành đưa vào sử dụng. Và tại hợp đồng cũng có quy định về thời gian bảo hành và bảo trì miễn phí là 12 tháng kể từ ngày hai bên bàn giao đưa vào sử dụng. Vì vậy, thời hạn bảo trì miễn phí đã hết từ ngày 28/7/2018.

Quá trình thực hiện hợp đồng nói trên, từ ngày 13/01/2016 đến ngày 28/12/2018 Công ty H đã thanh toán trả cho Công ty T là 7.759.803.000 đồng. Tính đến thời điểm ngày 09/8/2019, tổng số nợ gốc Công ty H còn phải thanh toán cho Công ty T là 868.487.000 đồng.

Công ty T đã rất nhiều lần liên hệ, làm việc và gửi công văn để yêu cầu Công ty H thanh toán số công nợ còn lại nhưng Công ty H đều không thanh toán. Tất cả các lý do đại diện phía Công ty H đưa ra cũng chỉ với mục đích là giãn nợ đến ngày hôm nay. Việc chậm thanh toán này đã và đang gây thiệt hại về kinh tế, ảnh hưởng nhiều đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty T.

Nhận thấy việc không còn muốn hợp tác từ Công ty H nên để bảo vệ quyền lợi của mình, Công ty T căn cứ Điều 14 của hợp đồng gửi hồ sơ khởi kiện đến Tòa án đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Công ty T đề nghị Tòa án giải quyết buộc Công ty H thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng số 3110/2015/HĐCC-LĐ ngày 31/10/2015 cho Công ty T các khoản sau:

  • Nợ gốc là: 868.487.000 đồng.
  • Tiền lãi do chậm thanh toán tạm tính từ ngày 25/06/2016 đến ngày 20/11/2020 là 657.648.552 đồng.

Tổng số tiền Công ty T yêu cầu Công ty H thanh toán số tiền là: 868.487.000 đồng + 657.648.552 đồng = 1.526.135.552 đồng.

Bị đơn và người đại diện của bị đơn trình bày:

Phía bị đơn hoàn toàn nhất trí và xác nhận Công ty H còn nợ số tiền gốc như đại diện Công ty T trình bày nêu trên là đúng. Đến thời điểm hiện tại Công ty H xác nhận còn nợ Công ty T số tiền nợ gốc là 868.487.000 đồng theo hợp đồng số 3110/2015/HĐCC-LĐ ngày 31/10/2015 về việc: Cung cấp lắp đặt thang máy tại dự án Tòa nhà hỗn hợp dịch vụ thương mại và nhà ở đường P, quận H, thành phố Hà Nội mà các bên đã ký kết.

Đối với khoản tiền lãi chậm thanh toán tính từ ngày 25/06/2016 đến ngày 20/11/2020 theo quy định tại Điều 306 của Luật thương mại và Điều 8 của Hợp đồng trên số tiền phát sinh từ nợ gốc là 657.648.552 đồng, chúng tôi không đồng ý thanh toán là vì Công ty T có sự can thiệp thao tác kỹ thuật vào việc vận hành của cả 7 thang máy, làm thang máy chỉ hoạt động được vài ngày lại ngừng hoạt động.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty T giữ nguyên yêu cầu như trong đơn khởi kiện: Buộc Công ty H thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng số 3110/2015/HĐCC-LĐ ngày 31/10/2015 cho Công ty T các khoản sau: Nợ gốc là: 868.487.000 đồng; Tiền lãi do chậm thanh toán tạm tính từ ngày 25/06/2016 đến ngày 25/12/2020 là 657.898.093 đồng. Tổng số tiền Công ty T yêu cầu Công ty H thanh toán số tiền là: 868.487.000 đồng + 657.898.093 đồng = 1.526.385.093 đồng.

Người đại diện theo pháp luật của Công ty H, ông Đào Văn C vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.

Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm 67/2020/KDTM-ST ngày 25/12/2020 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội đã xử:

Căn cứ Điều 24, Điều 50, Điều 306 Luật Thương mại; Điều 81 Luật Xây dựng năm 2003; Điều 280, Điều 351, 357, 360, 519 và Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 203, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của Công ty T đối với Công ty H.
  2. Buộc Công ty H trả cho Công ty T tổng số tiền 1.526.385.093 đồng gồm: Nợ gốc là 868.487.000 đồng; Lãi chậm thanh toán là 657.898.093 đồng.
  3. Về án phí: Công ty T không phải chịu án phí. Hoàn trả Công ty T 19.000.000 đồng tạm ứng án phí. Công ty H phải chịu 57.791.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, Công ty H đề nghị hủy bản án sơ thẩm, yêu cầu nguyên đơn bổ sung đầy đủ hồ sơ quyết toán, giấy chứng nhận bảo hiểm, yêu cầu nguyên đơn đối chiếu và thanh toán chi phí tiền điện trong quá trình thi công, yêu cầu nguyên đơn thanh toán phần sửa chữa thay thế các thiết bị theo công văn số 03/CV ngày 18/01/2019...

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn và bị đơn đã tự nguyện thỏa thuận về việc giải quyết toàn bộ vụ án như sau:

Bị đơn Công ty H thanh toán cho nguyên đơn Công ty T số tiền (nợ gốc và nợ lãi) là 1.000.000.000 đồng.

Thời gian thanh toán: ngày 21/7 thanh toán 500.000.000 đồng; ngày 21/8 thanh toán 250.000.000 đồng; ngày 21/9 thanh toán nốt 250.000.000 đồng.

Phương thức thanh toán: Bằng hình thức chuyển khoản.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] - Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của Công ty H hợp lệ. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

[2] - Về nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn đã tự nguyện thỏa thuận và thống nhất về cách giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. Xét sự thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 30; Điều 37; Điều 38; Điều 148; Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 280, Điều 351, 357, 360, 519 và Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Xử:

  1. Sửa Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 67/2020/KDTM-ST ngày 25/12/2020 và Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

    - Bị đơn Công ty H thanh toán cho nguyên đơn Công ty T số tiền (nợ gốc và nợ lãi) là 1.000.000.000 đồng.

    - Thời gian thanh toán: ngày 21/7 thanh toán 500.000.000 đồng; ngày 21/8 thanh toán 250.000.000 đồng; ngày 21/9 thanh toán nốt 250.000.000 đồng.

    - Phương thức thanh toán: Bằng hình thức chuyển khoản.

  2. Quy định về lãi suất chậm thi hành án theo Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
  3. Về án phí sơ thẩm: Công ty H phải chịu 42.000.000 đồng án phí. Hoàn trả Công ty T 19.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí.
  4. Về án phí phúc thẩm: Hoàn trả Công ty H 2.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- VKSND tp Hà Nội;

- CCTHADS quận Hà Đông, tp Hà Nội;

- TAND quận Hà Đông, tp Hà Nội;

- Các đương sự;

- Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thái Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2021/KDTM-PT ngày 21/06/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về tranh chấp hợp đồng kinh tế

  • Số bản án: 122/2021/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng kinh tế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2021
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty T - công ty H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger