Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————


Bản án số: 1219/2024/DS-ST

Ngày: 28-6-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Nhơn

2. Bà Phạm Thị Ngọc Thu

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Trân - Thư ký Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên toà:

Bà Hồ Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai và tuyên án đối với vụ án Dân sự thụ lý số 1176/2023/TLST-DS ngày 14/6/2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 940/2024/QĐXXST-DS ngày 24/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 217/2024/QĐST-DS ngày 12/6/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q

Trụ sở: A L, phường T, quận C, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T (Giấy ủy quyền số 785/UQ-MBAMC ngày 23/05/2023)(có mặt)

Bị đơn: Bà Lê N, sinh năm 1987(vắng mặt)

Địa chỉ 1 N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:


Theo đơn khởi kiện đề ngày 24/5/2023, bản tự khai và các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ký kết hợp đồng: Ngày 07/07/2021, bà Lê N và Ngân hàng TMCP Q có ký kết Hợp đồng cho vay theo hạn mức tín dụng có tài sản đảm bảo số 124330.21.100.6454743.TD. Nội dung của Hợp đồng, Ngân hàng đồng ý cấp hạn mức tín dụng cho bà Lê Na v số tiền gốc 1.600.000.000đồng. Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng, Mục đích vay tái cấp hạn mức tín dụng bổ sung vốn kinh doanh, thời hạn cấp hạn mức 24 tháng kể từ ngày 28/6/2021. Ngày 07/7/2022, Ngân hàng đã giải ngân cho bà Lê Na v số tiền gốc 1.600.000.000đồng theo Văn bản nhận nợ số LTI21175000039.JT05, thời hạn vay kể từ ngày liền kề sau ngày giải ngân cho đến hết tháng 01/2023, lãi suất trong hạn tại thời điểm giải ngân là 8,2%/năm và được điều chỉnh định kỳ 3 tháng một lần + biên độ 1,3%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn, lãi suất chậm trả 10%/năm, ngày trả nợ gốc vào ngày kết thúc khoản vay, ngày trả lãi là ngày 20 hàng tháng, kỳ lãi đầu tiên là ngày 20/8/2022.

Tài sản bảo đảm: Để đảm bảo cho khoản vay trên, bà Lê N đã thế chấp cho Ngân hàng TMCP Q Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tọa lạc tại số I N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh được U (nay là thành phố T) cấp Giấy giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp giấy CH04281 ngày 01/4/2016, cập nhật chuyển nhượng ngày 06/6/2017, nhà và đất trên thuộc quyền ở hữu của bà Lê Na . Hai bên đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 20273.20.100.6454743.BĐ ngày 24/02/2020. Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 25/02/2020 theo đúng quy định của pháp luật.

Thực hiện hợp đồng: Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà Lê Na c thanh toán cho Ngân hàng được 02 kỳ tiền lãi với số tiền tổng cộng là 26.599.452đồng, từ tháng 10/2022 đến nay bà Lê Na n không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào cho ngân hàng, mặc cho ngân hàng đã nhiều lần liên hệ và tạo điều kiện cho bà Lê Na t nợ. Do bà Lê N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng vay và trong văn bản nhận nợ nên ngày 09/01/2023 ngân hàng đã chuyển toàn bộ dự nợ của bà Lê Na s nợ quá hạn.

Yêu cầu đòi nợ: Nay nguyên đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc phía bị đơn phải thanh toán số tiền nợ tổng cộng là 1.957.235.799đồng (Một tỷ chín trăm năm mươi bảy triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn bảy trăm chín mươi chín đồng), trong đó bao gồm 1.600.000.000đồng tiền nợ gốc, 42.752.878đồng tiền lãi trong hạn và 314.482.921đồng tiền lãi quá hạn, các khoản tiền lãi tính đến ngày 28/6/2024.

2

Tại phiên toà hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc phía bị đơn thanh toán toàn bộ tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng cho vay theo hạn mức tín dụng có tài sản đảm bảo và Văn bản nhận nợ nêu trên cho Ngân hàng số tiền tổng cộng 1.957.235.799đồng (Một tỷ chín trăm năm mươi bảy triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn bảy trăm chín mươi chín đồng) tiền lãi tính đến ngày 28/6/2024.

Buộc bà Lê Na p tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng từ ngày 29/6/2024 trên số dư nợ vốn cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ vay, theo mức lãi suất được quy định cụ thể trong Hợp đồng cho vay theo hạn mức tín dụng có tài sản đảm bảo và Văn bản nhận nợ.

Thời hạn thanh toán và phương thức thanh toán: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán dứt điểm một lần toàn bộ số nợ gốc và lãi nêu trên ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp bà Lê Na k thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ nêu trên, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là nhà và đất tọa lạc tại số I N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh được U (nay là thành phố T) cấp Giấy giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN CH04281 ngày 01/4/2016, đã được cập nhật thay đổi sang tên cho bà Lê Na v1 ngày 06/6/2017, thuộc quyền sở hữu của bà Lê Na đ thu hồi nợ cho Ngân hàng. Số tiền phát mãi nhà và đất nêu trên nếu không đủ để thanh toán toàn bộ số nợ vay, buộc bà Lê Na p tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết toàn bộ số nợ vay.

Bị đơn - Bà Lê N: Sau khi thụ lý hồ sơ vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, thụ thập chứng cứ và thực hiện đầy đủ các thủ tục tống đạt theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự đối với bị đơn. Cụ thể: tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 02/5/2024; lúc 08 giờ 00 phút ngày 13/5/2024 cho bà Lê N nhưng bà Lê Na v2 không có mặt tham gia tố tụng, đồng thời bà Lê N cũng không có bất kỳ ý kiến gì bằng văn bản phản hồi về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do bà Lê Na vắng m không lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn – bà Lê Na vắng m không có lý do.

Phần tranh luận: Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng không có ý kiến phát biểu tranh luận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến

3

trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:

Thẩm phán chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tuy nhiên, Thẩm phán còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Khoản 1 Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát, Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181 Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo đúng quy định tại Điều 209, Điều 210 và Điều 211 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử gồm những thành viên như đã công bố trong quyết định đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định.

Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ Luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với người đại diện: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay người đại diện đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 117, Điều 118, Điều 119, điểm b khoản 1 Diều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải thanh toán số tiền nợ tổng cộng là 1.957.235.799đồng (Một tỷ chín trăm năm mươi bảy triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn bảy trăm chín mươi

4

chín đồng), trong đó bao gồm 1.600.000.000đồng tiền nợ gốc, 42.752.878đồng tiền lãi trong hạn và 314.482.921đồng tiền lãi quá hạn, các khoản tiền lãi tính đến ngày 28/6/2024. Bị đơn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng từ ngày 29/6/2024 trên số dư nợ vốn cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ vay, theo mức lãi suất được quy định cụ thể trong Hợp đồng cho vay theo hạn mức tín dụng có tài sản đảm bảo và Văn bản nhận nợ.

Trường hợp bà Lê Na k thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ thì nguyên đơn được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là nhà và đất tọa lạc tại số I N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để thu hồi nợ.

Về án phí, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải đóng toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn còn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản bảo đảm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP Q với bà Lê Na 1 tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Căn cứ khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự đây là vụ việc tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Bị đơn – bà Lê N khai địa chỉ cư trú vào thời điểm ký hợp đồng với nguyên đơn tại số A N, Phường B, quận B. Theo kết quả cung cấp chứng cứ ngày 29/6/2023 của Công an P, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đã định bà Lê Na cl đăng ký tạm trú và thực tế cư trú, sinh sống tại địa chỉ trên. Căn cứ Khoản 1 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

[2]. Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử lần 1 vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 12/6/2024 và lần 2 lúc 08 giờ 00 phút ngày 28/6/2024, nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành phiên tòa theo quy định.

[3]. Về yêu cầu của nguyên đơn :

5

Nguyên đơn yêu cầu bà Lê N thanh toán số tiền nợ gốc của hợp đồng cho vay theo hạn mức tín dụng tổng cộng là 1.600.000.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ vào Hợp đồng cho vay theo hạn mức tín dụng có tài sản đảm bảo số 124330.21.100.6454743.TD ngày 07/7/2021; Văn bản nhận nợ số LTI21175000039.JT05 ngày 07/7/2022; Bảng tính lãi và xác nhận công nợ ngày 28/6/2024 cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định bà Lê N đã vay của Ngân hàng TMCP Q khoản tiền vốn là 1.600.000.000 đồng vào ngày 07/7/2022, mục đích vay tái cấp hạn mức tín dụng bổ sung vốn kinh doanh, thời hạn vay từ sau ngày liền kề ngày giải ngân đến tháng 01/2023. Sau khi nhận tiền giải ngân đến nay, bà Lê Na c2 thanh toán cho nguyên đơn khoản tiền gốc nào.

Theo quy định tại Điều 6, điểm 9.3.1 khoản 9.3 Điều 9 của Hợp đồng cho vay theo hạn mức tín dụng số 124330.21.100.6454743.TD ngày 07/7/2021 và khoản 1 Điều II của Văn bản nhận nợ số LTI21175000039.JT05 ngày 07/7/2022 mà hai bên đã ký kết, thì bà Lê N có nghĩa vụ trả tiền nợ gốc vào ngày kết thúc khoản vay là tháng 01/2023. Bà Lê N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền nợ gốc theo đúng nội dung mà hai bên đã thỏa thuận, mặc dù nguyên đơn đã nhiều lần nhắc nhở và tạo điều kiện cho bị đơn trả nợ, nhưng bị đơn vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Việc vi phạm của bị đơn trong một thời gian dài đã làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do vậy, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu phía bị đơn phải thanh toán ngay khoản tiền nợ gốc là hoàn toàn phù hợp với những thỏa thuận mà hai bên đã thống nhất trong hợp đồng cho vay theo hạn mức tín dụng và trong văn bản nhận nợ, đồng thời cũng phù hợp với quy định tại các Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 là có cơ sở chấp nhận.

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn - bà Lê Na p thanh toán 42.752.878đồng tiền lãi trong hạn và 314.482.921 đồng lãi quá hạn tính đến ngày 28/6/2024, Hội đồng xét xử nhận định:

Từ khi nhận tiền giải ngân đến nay, bà Lê Na m1 thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ lãi 02 kỳ đầu tiên với số tiền tổng cộng là 26.599.452đồng, từ tháng 10/2022 đến nay bà Lê Na n không thanh toán bất kỳ khoản tiền lãi nào cho Ngân hàng. Mặc dù các bên đã thống nhất thỏa thuận cụ thể về mức lãi suất trong hạn, mức lãi suất quá hạn và các kỳ hạn trả lãi trong hợp đồng cho vay và trong Văn bản nhận nợ, nhưng bà Lê Na k thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán. Xem xét thời gian tính lãi, mức lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn mà ngân hàng áp dụng, được thể hiện chi tiết trong bảng tính lãi và xác nhận công nợ là hoàn toàn phù hợp với nội dung mà các bên đã thống nhất thỏa thuận tại Điều 2, Điều 8, Điều 9 của Hợp đồng cho vay theo hạn mức tín dụng số 124330.21.100.6454743.TD ngày 07/7/2021; khoản 5 Điều I và khoản 2 Điều II của Văn bản nhận nợ số LTI21175000039.JT05 ngày 07/7/2022. Đồng thời cũng phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày

6

30/12/2016 và Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N1 hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; khoản 2 Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN31-12-2001 của Thống đốc Ngân hàng N1 được sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN03-2-2005. Như vậy, việc nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc phía bị đơn – bà Lê Na p thanh toán các khoản tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn tính đến ngày 28/6/2024 phát sinh từ Hợp đồng cho vay theo hạn mức tín dụng và Văn bản nhận nợ nêu trên tổng cộng là 357.235.799đồng, trong đó bao gồm 42.752.878đồng tiền lãi trong hạn và 314.482.921đồng tiền lãi quá hạn là có cơ sở để chấp nhận.

Người đại diện của Nguyên đơn yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để đảm bảo việc thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP Q1, trong trường hợp bà Lê Na k thanh toán nợ hoặc thanh toán không đủ các khoản nợ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận định:

Tại Điều 5 và Điều 10 của Hợp đồng cho vay theo hạn mức tín dụng số 124330.21.100.6454743.TD ngày 07/7/2021 có quy định về tài sản bảo đảm, biện pháp bảo đảm đối với số tiền vay 1.600.000.000đồng là nhà và đất tọa lạc tại số I N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh được U (nay là thành phố T) cấp Giấy giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN CH04281 ngày 01/4/2016, đã được cập nhật thay đổi sang tên cho bà Lê Na v1 ngày 06/6/2017. Nhà đất này thuộc quyền sở hữu của bà Lê N, tài sản bảo đảm đã thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật (Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 25/02/2020).

Đồng thời cũng Điều 1, Điều 2, Điều 3 và Điều 5 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 20273.20.100.6454743.BĐ ngày 24/02/2020 mà các bên đương sự đã ký kết, có quy định về tài sản bảo đảm và nghĩa vụ được bảo đảm gồm các Hợp đồng cấp tín dụng được ký kết trước và sau thời điểm ký Hợp đồng thế chấp (bao gồm mọi nghĩa vụ thanh toán, trả nợ của các hợp đồng tín dụng phát sinh trước trong và sau khoảng thời gian này). Như vậy, các khoản nợ gốc, nợ lãi phát sinh từ Hợp đồng cho vay theo hạn mức tín dụng số 124330.21.100.6454743.TD ngày 07/7/2021 và Văn bản nhận nợ số LTI21175000039.JT05 ngày 07/7/2022 của bà Lê N cũng nằm trong nghĩa vụ được bảo đảm của tài sản bảo đảm là nhà và đất tọa lạc tại số I N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh mà bà Lê N đã thế chấp cho nguyên đơn.

Hội đồng xét xử xét thấy, việc ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 20273.20.100.6454743.BĐ ngày 24/02/2020 và Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 25/02/2020 của các bên đương sự đã tuân thủ đúng theo quy định tại các Điều 295,

7

Điều 296, Điều 298, Điều 317 và Điều 318 của Bộ luật dân sự năm 2015 và phù hợp với các quy định tại Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ quy định về giao dịch bảo đảm; Nghị định 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 về đăng ký giao dịch bảo đảm.

Do vậy, việc nguyên đơn yêu cầu được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là nhà và đất tọa lạc tại số I N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh được U (nay là thành phố T) cấp Giấy giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN CH04281 ngày 01/4/2016, đã được cập nhật thay đổi sang tên cho bà Lê Na v1 ngày 06/6/2017, thuộc quyền sở hữu của bà Lê Na đ thu hồi nợ cho ngân hàng, trong trường hợp bà Lê Na k thanh toán nợ hoặc thanh toán không đủ các khoản nợ nêu trên là đúng với quy định tại Điều 299, Điều 320 và Điều 323 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên chấp nhận.

Trường hợp tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán cho các khoản nợ vay (bao gồm tiền nợ vốn và các khoản tiền lãi), nguyên đơn yêu cầu bà Lê Na p tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết toàn bộ số nợ vay cho Ngân hàng là đúng với quy định tại Điều 307 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trong khi đó, bị đơn- bà Lê Na vắng m không có lý do trong suốt quá trình Toà án tiến hành điều tra thu thập chứng cứ và tại phiên toà hôm nay, mặc dù toà án đã tiến hành các thủ tục tống đạt hợp lệ cho bà Lê Na . Như vậy, bị đơn đã tự từ bỏ quyền tranh tụng tại toà để bảo vệ quyền lợi cho mình nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét cho quyền lợi của bị đơn.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy các yêu cầu của nguyên đơn – Ngân hàng TMCP Q đối với bị đơn – bà Lê Na 1 hoàn toàn có cơ sở chấp nhận toàn bộ như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh.

[4].Về án phí:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.

Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 267, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

8

Áp dụng các Điều 295, Điều 296, Điều 298, Điều 299, Điều 307, Điều 317, Điều 318, Điều 320, Điều 322, Điều 323, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Áp dụng Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự;

Áp dụng Luật án phí, lệ phí Tòa án;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q:

- Buộc bị đơn – bà Lê Na p trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng cho vay theo hạn mức tín dụng số 124330.21.100.6454743.TD ngày 07/7/2021 và Văn bản nhận nợ số LTI21175000039.JT05 ngày 07/7/2022 tổng cộng 1.957.235.799đồng (Một tỷ chín trăm năm mươi bảy triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn bảy trăm chín mươi chín đồng), trong đó bao gồm 1.600.000.000đồng tiền nợ gốc, 42.752.878đồng tiền lãi trong hạn và 314.482.921đồng tiền lãi quá hạn, các khoản tiền lãi được tính đến ngày 28/6/2024.

Phương thức thanh toán và thời hạn thanh toán: Thanh toán dứt điểm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 29/6/2024, bà Lê Na c3 phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay theo hạn mức tín dụng và Văn bản nhận nợ cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ gốc. Trường hợp trong Hợp đồng cho vay theo hạn mức tín dụng số 124330.21.100.6454743.TD ngày 07/7/2021 và Văn bản nhận nợ số LTI21175000039.JT05 ngày 07/7/2022 mà các bên đã ký kết có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Sau khi bà Lê N thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Lê Na bản c4 Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, có số vào sổ cấp GCN: CH04281 ngày 01/4/2016 đã được cập nhật thay đổi vào ngày 06/6/2017.

9

Trường hợp bà Lê Na k thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ nêu trên, thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là nhà và đất tọa lạc tại số I N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh được U (nay là thành phố T) cấp Giấy giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN CH04281 ngày 01/4/2016, đã được cập nhật thay đổi sang tên cho bà Lê Na v1 ngày 06/6/2017, thuộc quyền sở hữu của bà Lê Na đ thu hồi nợ cho Ngân hàng. Số tiền phát mãi nhà và đất nêu trên nếu không đủ để thanh toán cho các khoản nợ vay (bao gồm các khoản tiền nợ vốn và các khoản tiền lãi), buộc bà Lê Na p tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q cho đến khi trả hết toàn bộ số nợ vay.

Việc thi hành án được thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 70.717.074đồng (Bảy mươi triệu bảy trăm mười bảy nghìn không trăm bảy mươi bốn đồng) bị đơn - bà Lê N có nghĩa vụ nộp toàn bộ.

H số tiền tạm ứng án phí 31.795.000đồng (Ba mươi mốt triệu bảy trăm chín mươi lăn nghìn đồng) cho Ngân hàng TMCP Q, theo biên lai thu số 0027994 ngày 12/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh.

3. Quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP Q được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày truyên án. Bà Lê N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


Nơi nhận:

  • -TAND TP. HCM;
  • -VKSND Q. Bình Thạnh;
  • -THADS Q. Bình Thạnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Chu Thị Nguyệt

10

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Chu Thị Nguyệt

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1219/2024/DS-ST ngày 28/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 1219/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger