Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1216/2024/QÐST-DS

Ngày: 28-6-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Nhơn

2. Bà Hồ Thị Lang

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Trân - Thư ký Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên toà:

Bà Hà Thị Thúy Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án dân sự thụ lý số 582/2024/TLST-DS ngày 22/3/2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 317/2024/QĐXXST-DS ngày 28/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 218/2024/QÐST-DS ngày 12/6/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q

Trụ sở: Tầng 1+2 Sailing Tower số A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh T (có mặt)

(Giấy ủy quyền số 079880.24 ngày 19/4/2024)

Bị đơn : Ông Đỗ Phạm Duy M, sinh năm 1981 (vắng mặt)

Địa chỉ: 4 H, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 01/12/2023, bản tự khai và các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ký kết hợp đồng, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q và ông Đỗ Phạm Duy M có ký kết với nhau 02 Hợp đồng tín dụng, cụ thể:

Hợp đồng tín dụng thứ nhất: Ngày 07/4/2017, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q và ông Đỗ Phạm Duy M có ký Hợp đồng tín dụng (cho vay tiêu dùng cá nhân) số 0055/HĐTD-VIB828/17. Nội dung hợp đồng, Ngân hàng đồng ý cho ông M vay số tiền 94.000.000đồng, thời hạn vay 60 tháng kể từ ngày giải ngân, mục đích vay sửa chữa nhà, lãi suất tại thời điểm giải ngân 19%/năm và cố định trong suốt thời gian vay, hình thức vay tín chấp không có tài sản đảm bảo, hình thức trả nợ tiền gốc và lãi thanh toán vào ngày 10 hàng tháng. Ngày 10/4/2017, Ngân hàng đã giải ngân cho ông M vay số tiền 94.000.000đồng theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 0055/KUNN-VIB828/17.

Hợp đồng tín dụng thứ 2: Ngày 09/10/2017, ông Đỗ Phạm Duy M có ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế (bao gồm Giấy đăng ký phát hành thẻ tín dụng quốc tế và Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng V), loại thẻ V tín chấp. Căn cứ vào thu nhập của ông M, ngày 12/10/2017 Ngân hàng đã đồng ý phê duyệt cấp thẻ tín dụng với tổng hạn mức tín dụng là 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng) cho ông M sử dụng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất và phí được quy định cụ thể trong Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB.

Thực hiện hợp đồng:

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế, ông M đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền tổng cộng 31.699.356đồng, trong đó bao gồm 13.325.202đồng tiền nợ gốc và 18.374.154đồng tiền lãi. Do ông M thường xuyên vi phạm thời hạn thanh toán mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng nên phải chịu các khoản phí chậm thanh toán, lãi, phí vượt hạn mức và phí thường niên. Từ tháng 3/2018 đến nay, ông M ngưng không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào khác cho ngân hàng, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở và tạo điều kiện cho ông M trả nợ. Ngày 30/5/2018, ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng và thẻ tín dụng của ông M sang nợ quá hạn.

Tính đến ngày 28/6/2024, ông M còn nợ Ngân hàng số tiền tổng cộng là 265.116.774đồng (Hai trăm sáu mươi lăm triệu một trăm mười sáu nghìn bảy trăm bảy mươi bốn đồng), trong đó bao gồm 100.624.858đồng tiền nợ gốc, 43.057.313đồng tiền lãi trong hạn, 101.066.922đồng tiền lãi quá hạn và 15.488.866đồng tiền phí (cụ thể: Hợp đồng tín dụng số 0055/HĐTD-VIB828/17

tiền nợ gốc 80.674.798đồng, lãi trong hạn 43.057.313đồng, lãi quá hạn 98.263.015đồng; Nợ thẻ tín dụng quốc tế tiền nợ gốc 19.950.060đồng, lãi quá hạn 7.732.722đồng và phí 15.488.866đồng).

Bị đơn – ông Đỗ Phạm Duy M: Ông M đã vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, mặc dù Toà án nhân dân quận Bình Thạnh đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ và tiến hành các thủ tục tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật đối với ông M.

Tại phiên toà: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn – ông Đỗ Phạm Duy M thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ tổng cộng là 265.116.774đồng (Hai trăm sáu mươi lăm triệu một trăm mười sáu nghìn bảy trăm bảy mươi bốn đồng), trong đó bao gồm 100.624.858đồng tiền nợ gốc, 43.057.313đồng tiền lãi trong hạn, 101.066.922đồng tiền lãi quá hạn và 15.488.866đồng tiền phí các loại (gồm phí chậm thanh toán, phí vượt hạn mức, phí thường niên), tiền lãi và phí tính đến hết ngày 28/6/2024.

Bị đơn còn phải tiếp tục trả tiền lãi và các loại phí phát sinh tính từ ngày 29/6/2024 trên số tiền nợ gốc cho đến khi trả dứt nợ, theo mức lãi suất quá hạn được quy định trong Hợp đồng tín dụng ngày 07/4/2017 và trong Giấy Đăng ký phát hành thẻ tín dụng quốc tế và Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB của ngân hàng mà hai bên đã ký kết vào ngày 09/10/2017.

Thời hạn thanh toán và phương thức thanh toán: Thanh toán dứt điểm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Sau khi thụ lý hồ sơ, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tống đạt theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nhưng ông M vẫn không có mặt tham gia tố tụng, cũng không có ý kiến gì phản hồi thông báo thụ lý vụ án của Tòa án.

Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 23/5/2024, do ông M vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vắng mặt không có lý do.

Phần tranh luận:

Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng không có ý kiến phát biểu tranh luận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:

Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Cụ thể: Thẩm phán xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án, xác định vụ kiện thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa; Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát thực hiện theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định tại Điều 209, 210, 211 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay bị đơn đã không thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự có cơ sở xác định, giữa nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q và bị đơn ông Đỗ Phạm Duy M có ký kết với nha 02 hợp đồng tín dụng, cụ thể : Ngày 07/4/2017, ký Hợp đồng tín dụng cho vay tiêu dùng số 0055/HĐTD-VIB828/17, nguyên đơn đã giải ngân cho bị đơn số tiền 94.000.000 đồng theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 005/KUNN-VIB828/17 ngày 10/4/2017; Ngày 09/10/2017, hai bên tiếp tục ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, nguyên đơn đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức 20.000.000 đồng, loại thẻ VIB CLASSIC cho ông M sử dụng, lãi suất và phí được tính theo Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB. Trong quá trình sử dụng thẻ, bị đơn không thanh toán đầy đủ cho nguyên đơn nên ngày 30/5/2018, nguyên đơn đã chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn.

Căn cứ Bảng sao kê do nguyên đơn cung cấp ngày 28/6/2024, có cơ sở xác định bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền nợ gốc là 100.624.858 đồng, nợ lãi trong hạn là 43.057.313 đồng, nợ lãi quá hạn là 101.066.922 đồng, phí là 15.488.866 đồng.

Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của nguyên đơn, nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc và lãi, phí

phát sinh là phù hợp với quy định tại Điểu 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên có cơ sở chấp nhận.

Từ những nhận định nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Đỗ Phạm Duy M trả số tiền nợ tổng cộng là 265.116.774đồng (Hai trăm sáu mươi lăm triệu một trăm mười sáu nghìn bảy trăm bảy mươi bốn đồng), trong đó bao gồm 100.624.858đồng tiền nợ gốc, 43.057.313đồng tiền lãi trong hạn, 101.066.922đồng tiền lãi quá hạn và 15.488.866đồng tiền phí các loại (gồm phí chậm thanh toán, phí vượt hạn mức, phí thường niên), tiền lãi và phí tính đến hết ngày 28/6/2024. Bị đơn còn phải tiếp tục trả tiền lãi và các loại phí phát sinh tính từ ngày 29/6/2024 trên số tiền nợ gốc cho đến khi trả dứt nợ, theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận trong 02 Hợp đồng tín dụng.

Về án phí, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; nghe ý kiến của đương sự; nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q với ông Đỗ Phạm Duy M là tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản của Bộ luật Tố tụng Dân sự đây là loại vụ việc tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Bị đơn – ông Đỗ Phạm Duy M khai địa chỉ cư trú vào thời điểm ký hợp đồng với nguyên đơn tại số D H, Phường B, quận B. Theo kết quả cung cấp chứng cứ ngày 03/4/2024 của Công an P, quận B xác định ông Đỗ Phạm Duy M, sinh năm 1981 có đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện đang thực tế cư trú tại địa chỉ trên. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

[2]. Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử lần 1 vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 12/6/2014 và lần 2 lúc 08 giờ 00 phút ngày 28/6/2024 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành phiên tòa theo quy định.

[3]. Về yêu cầu của nguyên đơn :

Nguyên đơn yêu cầu ông Đỗ Phạm Duy M thanh toán số tiền nợ gốc tổng cộng 100.624.858đồng, trong đó bao gồm tiền nợ gốc từ Hợp đồng tín dụng số 0055/HĐTD-VIB828/17 là 80.674.798đồng; tiền nợ gốc của thẻ tín dụng quốc tế là 19.950.060đồng, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 0055/HĐTD-VIB828/17 ngày 07/4/2017; Bản điều khoản và điều kiện cấp tín dụng; Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 005/KUNN-VIB828/17 ngày 10/4/2017; Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đăng ký phát hành thẻ tín dụng quốc tế và Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB) ngày 09/10/2017 đã được ngân hàng phê duyệt ngày 12/10/2017; Bảng chi tiết tính lãi và bảng sao kê sử dụng thẻ tín dụng số 512824xxxxxx5455 cùng các lài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định nguyên đơn đã giải ngân cho bị đơn vay số tiền gốc 94.000.000đồng và cấp thẻ tín dụng quốc tế cho bị đơn sử dụng với hạn mức 20.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng và sử dụng thẻ tín dụng, bị đơn chỉ thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc của Hợp đồng tín dụng là 13.325.202đồng rồi ngưng không thanh toán từ tháng 3/2018 đến nay, mặc cho nguyên đơn đã nhiều lần nhắc nhở và tạo điều kiện cho bị đơn trả nợ. Ngày 30/5/2018, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bị đơn và chuyển toàn bộ dư nợ còn lại từ Hợp đồng tín dụng và nợ thẻ tín dụng của bị đơn sang nợ quá hạn theo quy định tại khoản 9.3 Điều 9 và Điều 10 của Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB của Ngân hàng. Việc vi phạm của bị đơn trong một thời gian dài đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Do vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 0055/HĐTD-VIB828/17 và từ những giao dịch sử dụng thẻ tín dụng số 512824xxxxxx5455 mà nguyên đơn đã cấp cho bị đơn sử dụng là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 7 của Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB của Ngân hàng và phù hợp với quy định tại các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Nguyên đơn yêu cầu ông Đỗ Phạm Duy M thanh toán tiền lãi và các loại phí tính đến ngày 28/6/2024 tổng cộng là 159.613.101đồng, trong đó bao gồm Hợp đồng tín dụng số 0055/HĐTD-VIB828/17 tiền lãi trong hạn 43.057.313đồng, tiền lãi quá hạn 98.263.015đồng; Nợ thẻ tín dụng quốc tế tiền lãi quá hạn 7.732.722đồng và phí các loại 15.488.866đồng, Hội đồng xét xử nhận định:

Trong Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng VIB các bên đã thống nhất thỏa thuận, lãi suất được áp dụng theo quy định trong Hợp đồng tín dụng cùng bản điều khoản và điều kiện cấp tín dụng và biểu lãi suất thẻ tín dụng, nên việc ông M không thanh toán tiền nợ gốc, nợ lãi theo đúng thời hạn đã thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Xem xét về thời gian tính lãi, mức lãi suất và phí chậm thanh toán, phí vượt hạn mức, phí thường niên mà ngân hàng đã áp dụng là hoàn toàn phù hợp thỏa thuận của các bên đương sự được quy định tại khoản 1.4,

khoản 1.5 Điều 1 của Hợp đồng tín dụng ; Điều 1 của Bản điều khoản và điều kiện cấp tín dụng đính kèm hợp đồng tín dụng; Điều 9 của Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q và phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN31-12-2001 của Thống đốc Ngân hàng N được sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN03-2-2005; Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do đó, yêu cầu về thanh toán các loại tiền lãi và các loại phí của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận.

Trong khi đó, bị đơn vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình toà án tiến hành điều tra thu thập chứng cứ và tại phiên toà hôm nay, mặc dù đã được toà án tiến hành tống đạt hợp lệ cho phía bị đơn. Bị đơn đã tự từ bỏ quyền tranh tụng tại toà để bảo vệ quyền lợi cho mình. Do vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét cho quyền lợi của bị đơn.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán số tiền tổng cộng là 265.116.774đồng (Hai trăm sáu mươi lăm triệu một trăm mười sáu nghìn bảy trăm bảy mươi bốn đồng), trong đó bao gồm 100.624.858đồng tiền nợ gốc, 43.057.313đồng tiền lãi trong hạn, 101.066.922đồng tiền lãi quá hạn và 15.488.866đồng tiền phí các loại (gồm phí chậm thanh toán, phí vượt hạn mức, phí thường niên), tiền lãi và phí tính đến hết ngày 28/6/2024 là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở để chấp nhận toàn bộ như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh.

[4].Về án phí:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.

Nguyên đơn được hoàn lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 266, Điều 267, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự 2015;

Áp dụng Khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Áp dụng Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự;

Áp dụng Luật án phí, lệ phí Tòa án;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.

Buộc bị đơn – ông Đỗ Phạm Duy M phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 0055/HĐTD-VIB828/17 ngày 07/4/2017; Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 005/KUNN-VIB828/17 ngày 10/4/2017 và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đăng ký phát hành thẻ tín dụng quốc tế và Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB) ngày 09/10/2017, tổng cộng là 265.116.774đồng (Hai trăm sáu mươi lăm triệu một trăm mười sáu nghìn bảy trăm bảy mươi bốn đồng), trong đó bao gồm 100.624.858đồng tiền nợ gốc, 43.057.313đồng tiền lãi trong hạn, 101.066.922đồng tiền lãi quá hạn và 15.488.866đồng tiền phí (cụ thể: Hợp đồng tín dụng số 0055/HĐTD-VIB828/17 tiền nợ gốc 80.674.798đồng, lãi trong hạn 43.057.313đồng, lãi quá hạn 98.263.015đồng; Nợ thẻ tín dụng quốc tế tiền nợ gốc 19.950.060đồng, lãi quá hạn 7.732.722đồng và phí 15.488.866đồng). Tiền lãi và các loại phí tính đến ngày 28/6/2024.

Phương thức thanh toán và thời hạn thanh toán: Thanh toán dứt điểm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông M còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, nếu các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Các bên đương sự thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm là 13.255.839 đồng (Mười ba triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn tám trăm ba mươi chín đồng) ông Đỗ Phạm Duy M phải nộp toàn bộ.

H lại số tiền tạm ứng án phí 6.229.000đồng (Sáu triệu hai trăm hai mươi chín nghìn đồng) cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q, theo biên lai thu số 0018867ngày 21/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh.

3. Quyền kháng cáo:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Đỗ Phạm Duy M được quyền kháng cào trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -TAND TP. HCM;
  • -VKSND quận Bình Thạnh;
  • -THADS quận Bình Thạnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Thị Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1216/2024/QÐST-DS ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 1216/2024/QÐST-DS
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger