Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1213/2023/DS-PT

Ngày: 19/12/2023

Về việc: “Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh Châu

Các thẩm phán:

1. Bà Nguyễn Thị Minh Phượng

2. Bà Nguyễn Thị Lan Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Cao Hoàng Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Khương – Kiểm sát viên.

Ngày 19/12/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 585/2023/TLPT-DS ngày 20 tháng 11 năm 2023, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 592/2023/DS-ST ngày 03/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5577/2023/QĐPT-DS ngày 27 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy C, sinh năm 1970;

Địa chỉ: Số A N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Anh V, sinh năm 1984 (có mặt);

Địa chỉ: Số H N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

(theo Hợp đồng ủy quyền số 017717, ngày 20/5/2017).

2. Bị đơn:

2.1 Bà Nguyễn Thị Hương L, sinh năm 1960;

2.2 Ông Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1958;

Cùng địa chỉ: Số C N, Phường H, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Thành L1, sinh năm 1966 (có mặt);

Địa chỉ thường trú: Số D Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên lạc: Lầu 2, số E N, Phường C, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

(theo văn bản ủy quyền đề ngày 29/9/2023).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Hoàng H: Luật sư Vũ Huy C1 - Văn phòng Luật sư H1 và Cộng sự thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (vắng mặt);

Địa chỉ: L, lock C2, R, số B N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Hoàng A, sinh năm 1957 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Số F C, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Người làm chứng:

4.1 Bà Nguyễn Thị Hoàng Y, sinh năm 1959 (có đơn xin vắng mặt);

Địa chỉ: Số A N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên lạc: Số A P, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

4.2 Bà Nguyễn Thị Hoàng A, sinh năm 1957 (có đơn xin vắng mặt);

Địa chỉ: Số F C, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Hương L, ông Nguyễn Hoàng H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơnbà Nguyễn Thị Thùy C có đại diện theo ủy quyền là ông Phạm Anh V trình bày:

Ngày 18/07/2013, bà Nguyễn Thị Thùy C (bà C) cùng bà Nguyễn Thị Hương L (bà L) và ông Nguyễn Hoàng H (ông H) – chồng của bà L ký hợp đồng vay tiền số công chứng 019149 tại Phòng C3, Thành phố Hồ Chí Minh, nội dung: Bà L và ông H vay của bà C số tiền 5.000.000.000 đồng, thời hạn vay là một năm kể từ ngày 01/08/2013, lãi suất vay là 01%/tháng.

Ngày 20/7/2013, bà L viết giấy vay nợ xác nhận có vay của bà C số tiền 5.000.000.000 đồng từ ngày 01/8/2013 và cam kết trả nợ sau một năm, lãi suất 2%/tháng, có sự chứng kiến của những người làm chứng là bà Nguyễn Thị Hoàng Y (bà Y) và bà Nguyễn Thị Hoàng A (bà A).

Đến hết ngày 01/08/2014, bà L, ông H vẫn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho bà C, mặc dù bà C đã nhiều lần yêu cầu bà L và ông H trả tiền nợ vay, bà L và ông H chỉ đã trả cho bà C được số tiền 300.000.000 đồng vào năm 2013.

Bà C yêu cầu bà L và ông H trả cho bà C tổng số tiền là 9.331.250.000 đồng, trong đó bao gồm nợ gốc là 5.000.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 28/7/2023 là 4.331.250.000 đồng (Tiền lãi theo thỏa thuận từ ngày 01/8/2013 đến ngày 31/7/2014 là: 5.000.000.000 đồng x 12 tháng x 1% = 600.000.000 đồng + Tiền lãi tính từ ngày 01/8/2014 đến ngày 28/7/2023 (107 tháng 28 ngày làm tròn là 107,5 tháng) với lãi suất 9%/năm, tương đương 0,75%/tháng là: 5.000.000.000 đồng x 107, 5 tháng x 0,75% = 4.031.250.000 đồng) thành một lần ngay sau khi có bản án có hiệu lực pháp luật.

* Bị đơn ông Nguyễn Hoàng H trình bày:

Ông H cùng vợ là bà Nguyễn Thị Hương L có ký hợp đồng công chứng ngày 18/07/2013 có nội dung là thỏa thuận sẽ vay của bà C 5.000.000.000 đồng, lãi suất 1%/tháng. Tuy nhiên thực tế thỏa thuận này không được thực hiện vì vợ chồng ông H, bà L không nhận khoản tiền nào của bà C giao, mà ông H chỉ ký để giúp cho bà C chứng minh tài chính xin hồ sơ đi Mỹ.

Ông H không biết, không ký, không nhận tiền, không liên quan về thỏa thuận trong giấy vay nợ đề ngày 20/7/2013 và vụ án đã hết thời hiệu khởi kiện kể từ ngày 01/9/2013 đề nghị Tòa án đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Bị đơn bà Nguyễn Thị Hương L trình bày:

Bà L và ông H có ký hợp đồng công chứng ngày 18/07/2013, thỏa thuận sẽ vay của bà C 5.000.000.000 đồng. Tuy nhiên bà L, ông H không nhận tiền của bà C và bà C không có giao tiền cho bà L. Bà L cũng không có trả khoản tiền 300.000.000 đồng cho bà C như bà C đã trình bày.

Đối với giấy vay nợ ngày 20/7/2013 không phải do bà H viết và ký tên. Việc bà L ký tên vào Hợp đồng vay tiền và giấy vay nợ đều là giả tạo nhằm để bà C chứng minh về tài chính cho hồ sơ xin visa du lịch đi Mỹ và hợp thức hóa việc đăng ký kết hôn để bà C định cư tại Mỹ.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng bà Nguyễn Thị Hoàng A trình bày:

Bà C có cho bà L ông H vay 5.000.000.000 đồng nên ngày 20/7/2013 bà L tự viết và ký giấy vay nợ, tôi và bà Nguyễn Thị Hoàng Y ký phần người làm chứng.

Ngoài ra, ngày 18/07/2013 bà C và bà L, ông H có ký hợp đồng vay tiền tại Phòng C3, Thành phố Hồ Chí Minh nội dung thỏa thuận trả tiền lãi bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản vào tài khoản số [...], mở tại S1 do bà A là chủ tài khoản. Tại thời điểm ký công chứng, bà A có mặt nhưng phòng công chứng không yêu cầu bà A ký.

Tuy nhiên, kể từ ngày ký hợp đồng vay tiền, giấy vay nợ cho đến nay, bà L ông H không chuyển khoản tiền lãi nào của khoản vay 5.000.000.000 đồng cho tôi bằng tiền mặt hay chuyển khoản.

Do hợp đồng vay tiền và giấy vay nợ có ghi tên tôi nên tôi trình bày sự thật, do bận việc nên bà A xin vắng mặt các buổi làm việc, xét xử của Tòa án.

*Người làm chứng bà Nguyễn Thị Hoàng Y trình bày:

Bà C có cho bà L, ông H vay 5.000.000.000 đồng nên ngày 20/7/2013 bà L tự viết và ký giấy vay nợ, tôi và bà Nguyễn Thị Hoàng A ký phần người làm chứng.

Do giấy vay nợ có ghi tên bà Y nên bà Y trình bày sự thật, do bận việc nên bà Y xin vắng mặt các buổi làm việc, xét xử của Tòa án.

Các đương sự khẳng định các chứng cứ đã được giao nộp, tiếp cận, công khai trong quá trình giải quyết vụ án. Ngoài những chứng cứ trên, không đương sự nào cung cấp chứng cứ khác cho Toà án.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 592/2023/DS-ST ngày 03/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy C.

Buộc ông Nguyễn Hoàng H và bà Nguyễn Thị Hương L phải trả cho bà Nguyễn Thị Thùy C số tiền nợ gốc: 5.000.000.000 (Năm tỷ) đồng; tiền lãi là: 4.331.250.000 đồng.

Tổng số tiền gốc và lãi là: 5.000.000.000 đồng + 4.331.250.000 đồng = 9.331.250.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Giữ nguyên quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 94/2017/QĐ-BPKCTT ngày 26/5/2017 và Quyết định sửa chữa, bổ sung Quyết định số 316/2020/QĐ-SCBSQĐ ngày 21/9/2020; quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 93/2017/QD-BPBĐ ngày 25/5/2017 của Tòa án nhân dân Quận 3.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Hoàng H và bà Nguyễn Thị Hương L thuộc trường hợp người cao tuổi nên ông Nguyễn Hoàng H và bà Nguyễn Thị Hương L không nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án.

Bà Nguyễn Thị Thùy C được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 57.450.000 đồng theo biên lai thu tiền số AC/2014/0003786 ngày 22 tháng 5 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Thi hành ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật, tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

* Ngày 07/8/2023, bị đơn ông Nguyễn Hoàng H và bà Nguyễn Thị Hương L có đơn kháng cáo (bổ sung ngày 16/8/2023) yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người khởi kiện không rút đơn khởi kiện, người kháng cáo không rút đơn kháng cáo. Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy C là ông Phạm Anh V trình bày: Bà C yêu cầu bà L và ông H trả cho bà C tổng số tiền là 9.331.250.000 đồng, trong đó bao gồm nợ gốc là 5.000.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 28/7/2023 là 4.331.250.000 đồng. Yêu cầu giải tỏa quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm để nguyên đơn được nhận lại 200.000.000 đồng.

- Đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Hoàng H, bà Nguyễn Thị Lan H2 là ông Nguyễn Thành L1 trình bày: Ông H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do ông H không nhận bất kỳ khoản tiền vay nào của bà C vì các bên ký vay nhưng thực tế nguyên đơn không giao tiền cho bị đơn và thời điểm vay bà L bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên không thể ký vay hay nhận tiền vay. Ngoài ra do nguyên đơn không giao tiền nên giấy tờ nhà đất bị đơn cũng không giao cho nguyên đơn. Nguyên đơn khai bị đơn trả lãi cho nguyên đơn là không có thật vì bị đơn không trả lãi cho ai nên yêu cầu Tòa án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Vụ án đã hết thời hiệu khởi kiện tính từ ngày 01/8/2014 đến 01/8/2016 đề nghị Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng bà Nguyễn Thị Hoàng A và người làm chứng bà Nguyễn Thị Hoàng Y có đơn xin vắng mặt phiên tòa phúc thẩm.

Luật sư Vũ Huy C1 là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Hoàng H: vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử tuyên bố nghị án, Thẩm phán chủ tọa, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Những người tham gia tố tụng đã được thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa;

- Về thời hạn kháng cáo:

[1] Ngày 07/8/2023, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm, cùng ngày bị đơn ông Nguyễn Hoàng H và bà Nguyễn Thị Hương L có đơn kháng cáo (Đơn bổ sung ngày 16/8/2023). Căn cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đơn kháng cáo của bị đơn làm trong thời hạn luật định, là hợp lệ được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

- Về thủ tục tố tụng:

[2] Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy C là ông Phạm Anh V có mặt; Đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Hoàng H và bà Nguyễn Thị Hương L là ông Phạm Thành L2 có mặt; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời cũng là người làm chứng bà Nguyễn Thị Hoàng A và người làm chứng bà Nguyễn Thị Hoàng Y có đơn xin vắng mặt; Luật sư Vũ Huy C1 là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Hoàng H có đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

[3] Xét kháng cáo của bị đơn yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy C về việc buộc ông Nguyễn Hoàng H và bà Nguyễn Thị Hương L trả cho bà Nguyễn Thị Thùy C tổng số tiền là 9.331.250.000 đồng, trong đó bao gồm nợ gốc là 5.000.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 28/7/2023 là 4.331.250.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận định:

[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, phía bị đơn yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ giải quyết vụ án do yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản của nguyên đơn đã hết thời hiệu khởi kiện, Hội đồng xét xử nhận thấy: Sau khi xét xử sơ thẩm bị đơn không kháng cáo liên quan đến việc áp dụng thời hiệu khởi kiện và nếu việc vay nợ là có thật thì xác định quyền và lợi ích của nguyên đơn bị xâm phạm kể từ ngày 01/9/2013 là lúc bị đơn không trả lãi cho nguyên đơn hoặc hết thời hạn vay 01 năm kể từ ngày 01/8/2013 đến ngày 01/8/2014 nhưng đến tháng 11/2017 nguyên đơn mới khởi kiện là đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định pháp luật nhưng do bị đơn không có đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu tại Tòa án cấp sơ thẩm nên Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng thời hiệu khởi kiện vẫn giải quyết, xét xử vụ án là đúng pháp luật.

[5] Quá trình giải quyết vụ án các đương sự thừa nhận có ký hợp đồng vay tiền ngày 18/07/2013, số công chứng 019149 tại Phòng C3, Thành phố Hồ Chí Minh và giấy vay nợ ngày 20/7/2013 để thực hiện thỏa thuận nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 5.000.000.000 đồng là đúng.

[6] Xét Hợp đồng vay tiền ngày 18/07/2013 do bà Nguyễn Thị Thùy C và vợ chồng ông Nguyễn Hoàng H, bà Nguyễn Thị Hương L ký tại Phòng C3, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung bà C cho bà L, ông H vay 5.000.000.000 đồng, thời hạn vay 01 năm, lãi suất sẽ trả vào ngày 01 hàng tháng bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản vào tài khoản của bà Nguyễn Thị Hoàng A, số tài khoản 060050339192 mở tại S1 và “...việc giao nhận tiền sẽ do hai bên tự thực hiện sau khi hai bên ký hợp đồng này...” là trùng với nội dung thỏa thuận tại giấy vay nợ ngày 20/7/2013 do bà C ký với bà L (ông H không ký giấy này) về khoản vay 5.000.000.000 đồng có hiệu lực vay từ ngày 01/8/2013, tiền lãi suất phải trả vào số tài khoản của bà Nguyễn Thị Hoàng A hoặc trả tiền mặt cho bà Hoàng A nhận. Xét thấy nguyên đơn và bị đơn đều xác định kể từ ngày ký công chứng là ngày 18/7/2013 cho đến nay bà C chưa giao cho bà L, ông H nhận khoản tiền 5.000.000.000 đồng theo hợp đồng vay tiền ngày 18/07/2013 và giấy vay nợ ngày 20/7/2013 nên có cơ sở xác định kể từ ngày ký hợp đồng vay cho đến nay nguyên đơn chưa giao cho bị đơn 5.000.000.000 đồng tiền vay.

[7] Phía nguyên đơn xác nhận 02 giấy trên cùng là một khoản vay của số tiền 5.000.000.000 đồng, do bà C và bà L là chị em nên bà C đã nhiều lần cho bà L vay tiền, đến tháng 7 năm 2013, bà L đã cộng dồn các khoản nợ thành số tiền là 5.000.000.000 đồng nên ông H, bà L đã đến Phòng công chứng ký hợp đồng vay tiền ngày 18/07/2013 và giấy vay nợ ngày 20/7/2013 nhưng phía nguyên đơn không xuất trình được chứng cứ chứng minh trước đó bà L có vay tiền bà C, khoản vay bao nhiêu? Vay khi nào? Bao nhiêu khoản vay để cộng dồn thành 5.000.000.000 đồng và không được phía bị đơn ông H, bà L thừa nhận nên không có cơ sở để xác định nguyên đơn đã giao số tiền 5.000.000.000 đồng cho ông H, bà L trước khi hai bên ký kết hợp đồng vay tiền ngày 18/07/2013 và giấy vay nợ ngày 20/7/2013, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[8] Ngoài ra, nguyên đơn khai đã giao tiền cho phía bị đơn nhận trước khi lập hợp đồng vay tiền ngày 18/07/2013 và giấy vay nợ ngày 20/7/2013 là mâu thuẫn với nội dung của hai thỏa thuận vay nêu trên bởi lẽ nếu đã giao tiền thì tại hợp đồng vay tiền ngày 18/07/2013 và giấy vay nợ ngày 20/7/2013 phải ghi nội dung đã giao tiền và việc vay tiền có hiệu lực ngay khi các bên ký hợp đồng vay tiền ngày 18/07/2013 hoặc ký giấy vay nợ ngày 20/7/2013, không thể ghi thời điểm vay là ngày 01/8/2013 và ghi “...việc giao nhận tiền sẽ do hai bên tự thực hiện sau khi hai bên ký hợp đồng này...” là không đúng thực tế. Ngược lại, căn cứ hợp đồng vay tiền ngày 18/07/2013 và giấy vay nợ ngày 20/7/2013 nói trên đều thể hiện việc vay tiền có hiệu lực từ ngày 01/8/2013 nhưng nguyên đơn xác định từ ngày 01/8/2013 đến ngày khởi kiện nguyên đơn không chuyển cho bị đơn nhận khoản tiền 5.000.000.000 đồng. Như vậy có căn cứ xác định kể từ khi hai bên ký hợp đồng vay tiền ngày 18/07/2013 và giấy vay nợ ngày 20/7/2013 nguyên đơn chưa thực hiện việc giao số tiền 5.000.000.000 đồng cho bị đơn như bị đơn trình bày là đúng.

Hơn nữa căn cứ giấy vay nợ ngày 20/7/2013 bà L cam kết sau một năm mà chưa trả cho bà C số tiền 5.000.000.000 đồng, bà C có quyền định đoạt nhà đất tại số G Đ, phường T, Quận A, căn cứ công văn số 4766/CNQ1, ngày 23/8/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H – Chi nhánh Q trả lời xác định: Căn nhà số G Đ, phường T, Quận A trước đây thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Hương L theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 4080/07/4/1999 do Ủy ban nhân dân Thành phố C4, ngày 03/10/2013 bà L chuyển nhượng nhà đất trên cho ông Thái Minh S theo hợp đồng mua bán số 026810, tại Phòng C3, Ủy ban nhân dân Quận A1 và đã cấp giấy chứng nhận số CH01156 ngày 20/6/2014 cho ông Thái Minh S. Như vậy xác định bị đơn khai do nguyên đơn không giao tiền vay nên bị đơn không giao giấy tờ nhà cho nguyên đơn giữ và việc mua bán sang tên nhà của bị đơn đã thực hiện từ ngày 03/10/2013 phía nguyên đơn cũng không phản đối hay tranh chấp gì là có cở sở. Đối với người làm chứng cũng không chứng kiến việc giao nhận tiền giữa hai bên nên không có cơ sở xem xét lời khai người làm chứng là có thật.

[9] Đối với tiền lãi vay, phía nguyên đơn cho rằng bị đơn có trả lãi cho nguyên đơn số tiền 300.000.000 đồng bằng tiền mặt, hai bên không lập biên nhận tiền lãi là mâu thuẫn với thỏa thuận tại hợp đồng vay tiền ngày 18/07/2013 và giấy vay nợ ngày 20/7/2013 vì các bên thỏa thuận việc trả lãi hàng tháng bị đơn phải chuyển khoản vào tài khoản của bà Nguyễn Thị Hoàng A, số tài khoản 060050339192 mở tại S1 hoặc trả tiền mặt cho bà Hoàng A nhận nhưng bà Hoàng A xác định: Ngày 18/7/2013 bà Hoàng A có đi cùng bà C và bà L đến Phòng C3, bà Hoàng A cung cấp thông tin số tài khoản của bà Hoàng A để công chứng viên ghi thông tin tài khoản vào hợp đồng vay tiền nhưng thực tế đến nay bà Hoàng A chưa nhận khoản tiền lãi là tiền mặt hay chuyển khoản nào từ bà L, ông H chuyển cho bà Hoàng A và bị đơn xác định không có vay tiền nên không có việc trả lãi cho nguyên đơn khai. Như vậy, lời khai của nguyên đơn khai có nhận của bị đơn 300.000.000 đồng tiền lãi nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh hai bên có giao nhận tiền lãi, không được bà Hoàng A thừa nhận là có nhận tiền lãi nên xác định không có việc bị đơn trả tiền trả lãi cho nguyên đơn như nguyên đơn trình bày là không đúng sự thật.

[10] Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn sửa bản án sơ thẩm; Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Giải tỏa quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 94/2017/QĐ-BPKCTT ngày 26/5/2017 và Quyết định sửa chữa, bổ sung Quyết định số 316/2020/QĐ-SCBSQĐ ngày 21/9/2020 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; Giải tỏa quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 93/2017/QD-BPBĐ ngày 25/5/2017 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hoàng H và bà Nguyễn Thị Hương L; Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 592/2023/DS-ST ngày 03/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể:

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy C về việc buộc ông Nguyễn Hoàng H và bà Nguyễn Thị Hương L phải trả cho bà Nguyễn Thị Thùy C số tiền nợ gốc: 5.000.000.000 đồng; tiền lãi là: 4.331.250.000 đồng.

Giải tỏa quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 94/2017/QĐ-BPKCTT ngày 26/5/2017 và Quyết định sửa chữa, bổ sung Quyết định số 316/2020/QĐ-SCBSQĐ ngày 21/9/2020 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; Giải tỏa quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 93/2017/QD-BPBĐ ngày 25/5/2017 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật hoặc có quyết định của cơ quan có thẩm quyền khác.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm:

- Bà Nguyễn Thị Thùy C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 117.331.250 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 57.450.000 đồng theo biên lai thu tiền số AC/2014/0003786 ngày 22 tháng 5 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Thùy C còn phải tiếp tục nộp 59.881.250 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Ông Nguyễn Hoàng H và bà Nguyễn Thị Hương L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Hương L 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0022227 ngày 16/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh. Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Hoàng H 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0022223 ngày 17/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Minh Phượng

Nguyễn Thị Lan Hương

Trần Thị Quỳnh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1213/2023/DS-PT ngày 19/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 1213/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hoàng H và bà Nguyễn Thị Hương L; Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 592/2023/DS-ST ngày 03/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể:
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger