TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 121/2024/HS-ST Ngày: 31-7-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Đăng Tố
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Trọng Vinh
- Ông Đinh Văn Thông
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 136/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2024/QĐXXST-HS ngày 16-7-2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Vũ Đăng C, sinh năm 1999, tại: Đồng Nai;
Nơi đăng ký thường trú: khu phố T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: khu phố S, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Phụ xe; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đăng S, sinh năm 1971 và bà Vũ Thị Thanh L, sinh năm 1971; chưa có vợ, con; tiền án: ngày 30-5-2023, bị Toà án nhân dân thành phố Long Khánh tuyên xử 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 08 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm tại Bản án số 79/2023/HSST; tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 15-3-2024, tạm giam từ ngày 24-3-2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L cho đến nay, (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Nguyễn Đăng S, sinh năm 1971. Địa chỉ: khu phố S, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, (Vắng mặt).
- Người chứng kiến: anh Lê Minh T, sinh năm 2000. Địa chỉ: tổ H, khu phố D, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Vũ Đăng C là đối tượng sử dụng trái phép ma túy từ năm 2022, loại ma tuý thường sử dụng là ma tuý đá (Methamphetamine). Để có ma túy sử dụng, C nhiều lần mua ma túy của đối tượng tên “B” tại khu vực bến xe L thuộc phường X, thành phố L để mang về cất giấu để sử dụng dần.
Vào khoảng 14 giờ 50 phút, ngày 15-3-2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên C sử dụng số điện thoại 0865.623.xxx gọi vào số điện thoại 0338.916.xxx gặp “B” mua 400.000 đồng ma túy đá, B đồng ý và hẹn C đi đến khu vực bến xe L để giao ma túy. Sau đó, C sử dụng xe mô tô hiệu Pelican, biển số 60R6-8634 của ông Nguyễn Đăng S (cha ruột C) đi đến khu vực bến xe L. Tại đây, C giao cho “B” số tiền 400.000 đồng và lấy 01 gói nylon hàn kín 02 đầu bên trong có chứa ma túy đá. Sau đó, C điều khiển xe về khu phố D, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an phường S kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ ma túy và niêm phong tang vật theo quy định pháp luật.
Tại bản kết luận giám định số 555/KL-KTHS, ngày 22-3-2024, Phòng K Công anh tỉnh Đồng Nai kết luận: mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1232 gam, loại: Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 123/CT-VKSLK ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, truy tố Nguyễn Vũ Đăng C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 01 năm 06 tháng tù.
Bị cáo không tham gia tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo nói lời sau cùng như sau: bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ân hận về hành vi của mình gây ra, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người chứng kiến không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: vào khoảng 14 giờ 50 phút, ngày 15-3-2024, bị cáo đã có hành vi mua khối lượng 0,1232 gam, loại: Methamphetamine về cất giấu để sử dụng. Methamphetamine là chất ma túy được liệt kê tại thứ tự số 247, phần II.C, danh mục II Ban hành kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính Phủ, quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý, sử dụng chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần, ma túy còn là nguyên nhân của các tội phạm khác. Vì vậy, Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy, nhằm tạo một môi trường sống, học tập, lao động lành mạnh, không có tệ nạn xã hội. Bị cáo nhận thức rõ hiểm họa của ma túy, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần có mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo đã bị kết án, chưa được xoá án tích, nay tiếp tục phạm tội là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[6] Về tổng hợp hình phạt:
Bị cáo phạm tội mới trong thời gian chấp hành thời gian thử thách của án treo, vì vậy, sau khi quyết định hình phạt của lần phạm tội này, cần tổng hợp hình phạt 10 tháng tù tại Bản án số 79/2023/HSST ngày 30-5-2023 của Toà án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung theo quy định tại Điều 56 và khoản 4 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[7] Vật chứng của vụ án:
7.1. 01 (Một) bịch nylon hàn kín được niêm phong số 555/KL-KTHS ngày 22-3-2024, của Phòng K Công anh tỉnh Đồng Nai, bên trong chứa khối lượng ma tuý còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên tiêu huỷ theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
7.2. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng, kèm số sim 0865-623-258, là phương tiện bị cáo liên lạc để mua ma tuý, nên cần tịch thu cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Các vấn đề khác:
Đối tượng tên “B” bán ma túy cho C, hiện nay chưa xác định rõ nhân thân, lai lịch. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Về tội danh: tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ Đăng C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Về hình phạt: xử phạt bị cáo 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù; tổng hợp hình phạt 10 (mười) tháng tù tại Bản án số 79/2023/HSST ngày 30-5-2023 của Toà án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, về tội: “Trộm cắp tài sản”, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù được tính kể ngày 15-3-2024.
- Về vật chứng:
- 3.1. Tiêu huỷ 01 (Một) bịch nylon hàn kín được niêm phong số 555/KL-KTHS ngày 22-3-2024 của Phòng K Công anh tỉnh Đồng Nai, bên trong chứa khối lượng ma tuý còn lại sau giám định.
- 3.2. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng, kèm số sim 0865-623-258, (Vật chứng hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10-7-2024).
- Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đăng Tố |
Bản án số 121/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 121/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Vũ Đăng Cường có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý
