TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 121/2024/DS-ST
Ngày: 29 - 8 - 2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, đòi lại tài sản.”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Tuyết Mai
Ông Phạm Văn Vĩ
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Trương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Bà Lê Văn Quốc– Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 67/2024/TLST-DS, ngày 13 tháng 3 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, đòi lại tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 247/2024/QĐXXST-DS, ngày 17 tháng 7 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 182/2024/QĐST-DS, ngày 08 tháng 8 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: - Bà Lê Ngọc Y, sinh năm 1987
Địa chỉ: Số 323B/8, khu vực 6, phường An Bình, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Chỗ ở: Khu vực 3, phường Trà An, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
+ Đại diện ủy quyền tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền ngày 13 tháng 6 năm 2023: - Ông Trần Văn Á, sinh năm 1990. Có mặt; ông Nguyễn Sỹ B, sinh năm 1996; ông Huỳnh N, sinh năm 1997. Vắng mặt; Bà Võ Thị Bích T, sinh năm 1997. Vắng mặt - cùng địa chỉ: Số A, T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn:
1. - Bà Nguyễn Thị Bích T1, sinh năm 1971
Địa chỉ: D - 37, đường D, KDC E, khu vực T, phường P, quận C, TP .
+ Đại diện ủy quyền tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền ngày 16 tháng 7 năm 2024: - Ông Lâm Tấn N1, sinh năm 1980 - Địa chỉ: 2/5/13 B, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. Có mặt
2.- Ông Nguyễn Hoàng Đ. Vắng mặt
Địa chỉ: D - 37, đường D, KDC E, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 27 tháng 6 năm 2023 và trong quá trình tố tụng, đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 14 tháng 11 năm 2018 bà Lê Ngọc Y có cho bà Nguyễn Thị Bích T1 và ông Nguyễn Hoàng Đ vay số tiền 1.130.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ một trăm ba mươi triệu đồng), lãi suất 20%/năm, thời hạn vay 01 ngày khi ngân hàng giải ngân sẽ trả. Khi vay có làm biên nhận bà T1 và ông Đ cùng ký tên. Bà Y đã giao đủ số tiền cho bà T1 và ông Đ. Ngày 15 tháng 11 năm 2018 có liên hệ với bà T1 và ông Đ yêu cầu trả số tiền trên thì bà T1 và ông Đ chưa trả do ngân hàng chưa giải ngân và xin gia hạn 01 tuần. Hết thời gian gia hạn nhưng bà T1 và ông Đ vẫn không trả số nợ trên. Cho đến nay bà T1, ông Đ vẫn chưa trả tiền cho bà Y.
Những nội dung bà Lê Ngọc Y khởi kiện yêu cầu giải quyết: Buộc bà Nguyễn Thị Bích T1 và ông Nguyễn Hoàng Đ liên đới trả tiền vay là: 2.701.327.777 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ bảy trăm lẽ một triệu ba trăm hai mươi bảy nghìn bảy trăm bảy mươi bảy đồng), bao gồm: tiền gốc 1.130.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ một trăm ba mươi triệu đồng), tiền lãi tạm tính từ ngày 15 tháng 11 năm 2018, mức lãi suất là 20%/năm cho đến ngày xét xử sơ thẩm và tiền lãi phát sinh cho đến khi thi hành xong với lãi suất 20%/năm/tổng số tiền phải trả (nợ gốc +lãi trong hạn+lãi quá hạn).
Đại diện ủy quyền của bà Nguyễn Thị Bích T1 trình bày ý kiến: Vào khoảng tháng 11 năm 2018 bà T1 có đề nghị một nhóm người gồm: Diệp, M và bà Lê Ngọc Y để mượn số tiền 1.750.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ bảy trăm năm mươi triệu đồng) trong đó bao gồm số tiền 1.130.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ một trăm ba mươi triệu đồng) mà bà Y khởi kiện. Bà T1 không nhớ có làm biên nhận nợ hay không vì lâu quá, thời gian: 01 ngày, mục đích: đáo hạn Ngân hàng B1 . Để đảm bảo khoản vay bà T1 và bà Y có ký các văn bản ủy quyền trả nợ Ngân hàng, ký hợp đồng chuyển nhượng tài sản chưa công chứng, chứng thực gồm 03 thửa đất tọa lạc tại thị xã V, tỉnh Sóc Trăng đang thế chấp Ngân hàng. Sau khi ký các văn bản nêu trên thì bà T1 không nhận tiền từ bà Y, D, Mỹ. Do đó, bà Y khởi kiện yêu cầu trả tiền theo biên nhận nợ ngày 14 tháng 11 năm 2018 thì bà T1 không đồng ý, không thừa nhận biên nhận nợ này. Còn Nguyễn Hoàng Đ là ai bà T1 không biết. Bà T1 có người con tên Đ.
Biên nhận nợ ngày 14 tháng 11 năm 2018 cho đến nay đã hết thời hiệu khởi kiện. Đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bà T1 không thừa nhận có biên nhận ngày 14 tháng 11 năm 2018 thể hiện nội dung vay số tiền 1.130.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ một trăm ba mươi triệu đồng) của bà Y. Bà T1 không yêu cầu giám định chữ ký và chữ viết Nguyễn Thị Bích T1 trong biên nhận ngày 14 tháng 11.2018. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa:
- Đại diện ủy quyền của bà Lê Ngọc Y trình bày: Bà Y yêu cầu bà Nguyễn Thị Bích T1 và ông Nguyễn Hoàng Đ liên đới trả số tiền gốc 1.130.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ một trăm ba mươi triệu đồng). Không yêu cầu trả lãi.
- Đại diện ủy quyền của bà Nguyễn Thị Bích T1 trình bày: Bà T1 có ký biên nhận ngày 14 tháng 11 năm 2018 nhưng không có nhận tiền từ bà Y nên bà T1 không đồng ý trả số tiền 1.130.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ một trăm ba mươi triệu đồng). Ông Nguyễn Hoàng Đ là con của bà T1 có đi cùng bà T1, ông Đ ký vào biên nhận ngày 14 tháng 11 năm 2018 theo yêu cầu của bà Y, ông Đ cũng không nhận tiền từ bà Y. Yêu cầu áp dụng thời hiệu vì hợp đồng vay từ năm 2018 cho đến nay đã hết. Đề nghị Hội đồng xem xét yêu cầu ông Đ liên đới với bà T1 trả số tiền cho bà Y.
Ông Nguyễn Hoàng Đ đã được cấp, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Việc thụ lý giải quyết vụ án của Thẩm phán, cũng như của Hội đồng xét xử ngày hôm nay là đúng trình tự thủ tục luật định.
+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày tại phiên tòa. Biên nhận ngày 14 tháng 11 năm 2018 thể hiện bà T1 và ông Đ có vay của bà Y số tiền 1.130.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ một trăm ba mươi triệu đồng). Tại phiên tòa, đại diện ủy quyền của bà T1 thừa nhận có ký biên nhận này. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà Y có căn cứ. Về yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện: bà Y cho bà T1 và ông Đ vay tiền thì bà Y có quyền đòi lại tài sản nên không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Về tiền lãi: Bà Y không yêu cầu bà T1 và ông Đ trả lãi. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Y. Buộc bà T1 và ông Đ liên đới trả cho bà Y số tiền 1.130.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ một trăm ba mươi triệu đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm thấy.
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vay. Bị đơn có cư trú tại quận C, thành phố Cần Thơ. Do đó, quan hệ tranh chấp xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, đòi lại tài sản” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
Theo kết quả xác minh của Công an phường P, quận C, thành phố Cần Thơ ngày 18 tháng 4 năm 2024 thì bà Nguyễn Thị Bích T1 và ông Nguyễn Hoàng Đ có sinh sống tại D, đường D, KDC E, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ. Ông Đ đã được cấp, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định theo quy định nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án và xét xử vắng mặt đương sự nêu trên.
[2] Về nội dung tranh chấp:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu nguyên đơn, bị đơn giao nộp, thu thập trong quá trình giải quyết vụ án và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về nợ gốc: Giữa bà Lê Ngọc Y và bà Nguyễn Thị Bích T1, ông Nguyễn Hoàng Đ có ký biên nhận ngày 14 tháng 11 năm 2018 thể hiện nội dung bà T hủy, ông Đ có vay bà Y số tiền 1.130.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ một trăm ba mươi triệu đồng), được các bên tự nguyện giao kết và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Bị đơn cho rằng chưa nhận tiền từ bà Y đây không phải là căn cứ để chứng minh việc bà T1 và ông Đ không có vay tiền của bà Y. Do đó, bà T1 và ông Đ có vay bà Y số tiền 1.130.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ một trăm ba mươi triệu đồng) là có thật. Ông Nguyễn Hoàng Đ đã được cấp, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến phản bác lại yêu cầu khởi kiện và chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp. Như vậy ông Đ đã từ bỏ quyền chứng minh của mình.
Xét về quan hệ gia đình giữa bà T1 và ông Đ là mẹ con và cùng ký tên vào biên nhận ngày 14 tháng 11 năm 2018. Do đó, cần phải buộc bà Nguyễn Thị Bích T1 và ông Nguyễn Hoàng Đ có nghĩa vụ liên đới để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà Lê Ngọc Y.
[2.2] Về áp dụng thời hiệu: Đối với yêu cầu về bảo vệ quyền sở hữu thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện quy định tại Điều 155 Bộ luật Dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng thời hiệu khởi kiện.
[2.3] Về tiền lãi: Bà Y không yêu cầu bà T1 và ông Đ trả lãi. Đây là sự tự nguyện của đương sự phù hợp với quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Ngọc Y.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Bích T1 và ông Nguyễn Hoàng Đ phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 184, 227, 228, 273, Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 117, 119, 155, 157, 357, 429, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ngọc Y đối với bà Nguyễn Thị Bích T1 và ông Nguyễn Hoàng Đ.
Buộc bà Nguyễn Thị Bích T1 liên đới ông Nguyễn Hoàng Đ có nghĩa vụ trả cho bà Lê Ngọc Y số tiền 1.130.000.000 (Bằng chữ: Một tỷ một trăm ba mươi triệu đồng).
Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chậm thi hành số tiền trên thì hàng tháng bị đơn còn phải trả cho nguyên đơn số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
[2]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Bích T1 và ông Nguyễn Hoàng Đ phải chịu 45.900.000 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi lăm triệu chín trăm nghìn đồng).
Hoàn trả cho bà Lê Ngọc Y 43.014.000 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi ba triệu không trăm mười bốn nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp đã nộp theo biên lai thu số 0003291, ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
[3]. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Hồng Vang |
Bản án số 121/2024/DS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, đòi lại tài sản
- Số bản án: 121/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lÊ nGỌC yẾN
