Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29 - 7 - 2024

V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Dũng và bà Trần Thị Liên

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Hoàng Phương Loan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Đào Anh Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 29/7/2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1059/2023/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2023, về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/6/2024, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm: 1992 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số 236A P, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Địa chỉ liên hệ: Số 554/7 C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

- Bị đơn: Ông Võ Quốc C – Sinh năm: 1988 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số 177/8 Y, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn trình bày:

Bà Nguyễn Thị Q và ông Võ Quốc C kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường E, thành phố B ngày 04/10/2016. Thời gian đầu hôn nhân hạnh phúc, sau đó các bên phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm. Mâu thuẫn hôn nhân ngày càng lớn, thời gian mâu thuẫn kéo dài, hôn nhân không hạnh phúc nên bà Nguyễn Thị Q và ông Võ Quốc C đã ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay. Hiện nay, bà Nguyễn Thị Q đã chuyển xuống thành phố B, tỉnh Đồng Nai để làm việc và sinh sống.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Q và ông Võ Quốc C chưa có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Q và ông Võ Quốc C không yêu Tòa án giải quyết.

2. Quá trình giải quyết vụ án, ông Võ Quốc C không tham gia tố tụng theo giấy triệu tập của Tòa án, không giao nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và 71 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không tham gia tố tụng theo giấy triệu tập của Tòa án là vi phạm Điều 70 và 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do; đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định được quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Q và ông Võ Quốc C hiện lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết ly hôn cho bà Nguyễn Thị Q và ông Võ Quốc C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp “Ly hôn” đối với ông Võ Quốc C (cư trú tại phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk), đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

  2. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Q vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; ông Võ Quốc C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 và 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

  3. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhận thấy:

    1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Q và ông Võ Quốc C kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Q xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông C, ông bà đã ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay; ông Võ Quốc C không tham gia tố tụng thể hiện việc không muốn hàn gắn quan hệ hôn nhân. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử nhận thấy tình

    trạng hôn nhân giữa bà Q và ông C đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Q là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

    1. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Q xác định trong thời kỳ hôn nhân các đương sự chưa có con chung nên không đề cập giải quyết.

    2. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

  1. Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Q.

    Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Q được ly hôn đối với ông Võ Quốc C.

    Về con chung: Các đương sự xác định chưa có con chung, nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

    Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

  2. Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Q phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số AA/2023/0004492 ngày 05/12/2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

  3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND Tp. BMT;
  • - Chi cục THADS Tp B;
  • - UBND phường E;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 121/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 121/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Q và ông Võ Quốc C kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường E, thành phố B ngày 04/10/2016. Thời gian đầu hôn nhân hạnh phúc, sau đó các bên phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm. Mâu thuẫn hôn nhân ngày càng lớn, thời gian mâu thuẫn kéo dài, hôn nhân không hạnh phúc nên bà Nguyễn Thị Q và ông Võ Quốc C đã ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay. Hiện nay, bà Nguyễn Thị Q đã chuyển xuống thành phố B, tỉnh Đồng Nai để làm việc và sinh sống.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger