|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 121/2023/HS-PT
Ngày: 28/11/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng;
Các Thẩm phán: Ông Phạm Thanh Tùng;
Ông Nguyễn Vĩnh Khương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Bích Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Tài - Kiểm sát viên.
Ngày 28/11/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 123/2023/TLPT-HS ngày 20/10/2023 đối với bị cáo Bùi Công T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HS-ST ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị cáo có kháng cáo: Bùi Công T; Sinh ngày 15/8/2001. Nơi sinh: thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; Nơi đăng ký thường trú: Ấp C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở hiện nay: Ấp C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Bùi Công Đ, sinh năm 1975 (S) và bà Cao Thị T1, sinh năm 1981 (S); A, chị em ruột có 03 người (tính luôn bị cáo): Lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2011; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/3/2023 cho đến nay. (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn N – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S; Địa chỉ Trung tâm: Số A, đường H, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Những người dưới đây không liên quan đến kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: Người đại diện hợp pháp của bị hại Quách Thị Tuyết L là ông Lý Hồng S, bà Lý Thị Hồng H, ông Lý Hồng V, ông Lý Hồng P; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Công Đ; Người làm chứng ông Lê Văn Ẩ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Công T, sinh ngày 15/8/2001, bản thân đã có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định Vào chiều ngày 17/12/2022, T có đi gửi tiền mừng đám cưới và uống bia tại một đám cưới gần nhà ở ấp C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển số 83P4-012.57 (xe do Bùi Công Đ là cha T đứng tên chủ sở hữu) chở phía sau là em ruột tên Bùi Công P1, đi từ nhà của T đến xã T, huyện M để tiếp tục dự đám cưới.
Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, khi T điều khiển xe mô tô chở P1 lưu thông đến tuyến đường T thuộc ấp C, thị trấn M, huyện M, hướng từ thị trấn T về xã T, với vận tốc khoảng 40 – 50km/h, cách mép lề phải khoảng 1,5 mét, vừa qua đèn xanh đèn đỏ ngã tư chợ M được khoảng 200 mét, đoạn đường có đèn đường chiếu sáng, thì T phát hiện bên đường phía tay trái hướng lưu thông có 01 đám cưới (có che rạp đám cưới), nên T vừa điều khiển xe lưu thông, vừa nhìn qua nơi tổ chức đám cưới. Khi T điều khiển xe vừa qua khỏi rạp cưới khoảng 03 – 04 mét thì P1 ngồi phía sau phát hiện bà Quách Thị Tuyết L, đang dắt cháu ngoại của bà L là Lê Ngọc T2 (đang đi bộ phía trước cùng chiều với hướng lưu thông của T và P1, sát mép lề lộ, cách lề lộ khoảng 01 mét. Lúc này, P1 mới dùng tay vỗ lên vai của T, nên T quay mặt lại nhìn phía trước thì T phát hiện bà L đang đi bộ phía trước cách xe T khoảng 03 mét, T mới đạp thắng xe, nhưng do khoảng cách quá gần nên không tránh kịp, dẫn đến phần trước xe mô tô của T va chạm vào phía sau người bà L gây tai nạn giao thông. Sự việc diễn ra được ông Lê Văn Â, sinh năm 1960, đang trông coi xe cho đám cưới ngồi gần đó nhìn thấy và Camera nhà của bà Trần Tuyết N1, sinh năm 1981, ĐKTT: ấp C, thị trấn M, huyện M ghi lại.
Hậu quả: Bà Quách Thị Tuyết L bị thương nặng và tử vong đang trên đường đưa đi cấp cứu; T bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh S, còn P1 bị xây xát nhẹ nên không nằm viện điều trị. Tại bản Kết luận giám định pháp y tử thi số: 255/TgT-PY, ngày 27 tháng 12 năm 2022, của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận: Nguyên nhân tử vong của bà Quách Thị Tuyết L là do ngạt hô hấp.
Phiếu kết quả sinh hóa ngày 09/01/2023, của Bệnh viện Đa khoa tỉnh S, xét nghiệm mẫu máu của Bùi Công T thu vào lúc 20 giờ 20 phút ngày 17/12/2022 có kết quả nồng độ cồn trong máu là 0,27mg/100ml máu.
Tại bản Kết luận giám định pháp về thương tích số: 106/TgT-PY, ngày 10 tháng 3 năm 2023, của Trung tâm Pháp y tỉnh S, kết luận: Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Bùi Công T là 19%.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HS-ST ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng quyết định:
- Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 54, khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi năm 2017).
- Tuyên bố: Bị cáo Bùi Công T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Xử phạt bị cáo Bùi Công T 02 (hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo chấp hành án.
- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
* Ngày 26/9/2023, bị cáo Bùi Công T kháng cáo xin giảm hình phạt từ 02 năm tù giảm nhẹ còn lại 06 tháng, do bị cáo phạm tội với lỗi vô ý; Đã khắc phục hậu quả, bồi thường số tiền 80.000.000 đồng; Đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, do bị cáo là lao động chính, cha mẹ già, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Công T giữ nguyên nội dung kháng cáo xin xin giảm hình phạt từ 02 năm tù giảm nhẹ còn lại 06 tháng.
* Tại phiên toà phúc thẩm, người bào chữa cho bị cáo thống nhất về tội danh, về hình phạt đối với bị cáo thì quá nặng, nhưng về trình độ học vấn thấp nên nhận thức còn hạn chế, do thiếu quan sát nên phạm tội. Cần giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do bản án sơ thẩm nghiêm khắc, bị cáo phạm tội lần đầu. Đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng xác định Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Bùi Công T 02 năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021) không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm. Mặc dù nhận thức pháp luật có hạn chế do trình độ học vấn thấp nhưng mức hình phạt cấp sơ thẩm đã quyết định là tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo của bị cáo Bùi Công T lập và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm vào ngày 26/9/2023 là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021). Do đó, căn cứ vào Điều 345 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021), Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Bùi Công T theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Công T như sau: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T khai nhận: Vào khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 17/12/2022 sau khi uống rượu, bia đã điều khiển xe mô tô biển số 83P4-012.57 tham gia giao thông chở Bùi Công P1 ngồi sau xe, do tình trạng có sử dụng bia mà trong máu có nồng độ cồn là 0,27mg/100ml máu, không chú ý quan sát, vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây tai nạn trên tuyến đường T thuộc ấp C, thị trấn M, huyện M, hướng từ thị trấn T về xã T làm thiệt hại tính mạng của bà Quách Thị Tuyết L, qua kết quả khám nghiệm tử thi xác định nguyên nhân tử vong là do ngạt hô hấp. Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Xét bị cáo T đã có hành vi sử dụng rượu, bia mà có nồng độ cồn trong máu 27mg/100ml và không chú ý quan sát khi tham gia giao thông dẫn đến gây tai nạn giao thông theo quy định tại khoản 8, khoản 23 Điều 8 của Luật Giao thông đường bộ năm 2008 và điểm b khoản 7 Điều 6 của Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ . Hành vi của bị cáo T đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại đến tính mạng của Quách Thị Tuyết L. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận bị cáo Bùi Công T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[3] Về kháng cáo xin giảm hình phạt tù của bị cáo Bùi Công T: Xét khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đồng thời, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân 80.000.000 đồng và đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo là người có nhân thân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Từ đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm xử áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo T mức án 02 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng. Đồng thời, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo và người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do bị cáo có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuy nhiên, như nhận định trên mức hình phạt mà cấp sơ thẩm quyết định là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Do đó, kháng cáo của bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt là không có căn cứ để chấp nhận.
[4] Từ những nhận định, phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021) chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận đề nghị của người bào chữa, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.
[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Tuy nhiên, bị cáo thuộc hộ cận nghèo và có yêu cầu được miễn án phí, nên bị cáo được miễn án phí theo quy định pháp luật.
[6] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021).
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Công T về việc xin giảm hình phạt từ 02 năm tù giảm nhẹ còn lại 06 tháng.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình sự đối với bị cáo Bùi Công T của Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HS-ST ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi năm 2017).
Xử phạt bị cáo Bùi Công T 02 (hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo chấp hành án.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021) và điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Bùi Công T được miễn án phí phúc thẩm.
4. Các phần Quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Lê Vũ Huy Hoàng |
Bản án số 121/2023/HS-PT ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 121/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khong chap nhan KC, giu nguyen an so tham
